Anh hùng Lê Văn Thọ
Anh hùng Lê Văn Thọ (còn gọi là Muối) sinh năm 1932, là người con của đất Gò Môn - Chiến khu An Phú Ðông nổi tiếng (xã Thạnh Lộc, quận Gò Vấp xưa)
Ðó là các trận đánh ghi nhận bao sự dũng cảm, kiên cường, như trận đánh chiến đấu tiêu diệt địch ở cầu Bến Phân và dọc sông Bến Cát, trận đánh cầu Ðình ngày 1-2-1946, đặc biệt là trận chống càn binh lính thực dân Pháp đổ quân ngày 1-3-1946.
Ðây cũng là trận đánh mà Chi đội 6 mặc dù vừa mới thành lập đã đánh lui trận càn lớn nhất ở Nam Bộ vào bấy giờ, để mở màn cho các trận tập kích binh lính Pháp nằm vị trí sát nách Sài Gòn.
Chiến khu An Phú Đông nằm phía Đông Bắc thành phố, gồm vùng đất thuộc 2 xã An Phú Đông và Thạnh Lộc (quận Gò Vấp) cách trung tâm Sài Gòn 4 km đường chim bay, cách Gò Vấp 1 km đường bộ, nằm về phía hữu ngạn, lọt giữa một bên phía Đông là sông Sài Gòn, một bên là Rạch Cát chảy vòng từ phía Tây lên phía Bắc.
An Phú Đông và Thạnh Lộc như 1 cù lao có dáng hình bầu dục rộng khoảng 10 km2.
Đây là vùng địa hình có vườn cây và đồng ruộng, sông rạch, bờ mương chằng chịt, xung quanh có bờ bao nước sông vào ra theo thủy triều lên xuống của sông Sài Gòn. Đất đai màu mỡ, vườn cây, ăn trái xanh tốt, trù phú, dân cư tập trung đông đúc.
Từ đây, có thể giao lưu thuận tiện về phía Tây Bắc Thạnh Lộc đến Quới Xuân, Nhị Bình, Bình Lý, Tân Mỹ (Hóc Môn) sang phía Đông sông Sài Gòn các xã Vĩnh Phú, Tam Bình nối liền lên xã Tân Đông Hiệp (Dĩ An); phía Đông Nam có Hiệp Bình, Bình Lợi nối liền với xã Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây.
Thực hiện chủ trương “lập những khu căn cứ kháng chiến ngay ở ngoại ô, phụ cận Sài Gòn”, “Không rút đi xa, cố bám đất, bám dân, làm chiến tranh du kích, làm chiến tranh nhân dân” của Tỉnh ủy Gia Định đề ra từ đầu cuộc kháng chiến, sau ngày 5 tháng 10 năm 1945, đại bộ phận các cơ quan quân, dân, chính, đảng và sở chỉ huy các đơn vị vũ trang tỉnh Gia Định và quận Gò Vấp chuyển lần về An Phú Đông -Thạnh Lộc.
Kế đến, sở chỉ huy mặt trận tiền tuyến miền Đông, trụ sở Tổng công đoàn Nam Bộ, Liên hiệp Công đoàn Sài Gòn và nhiều tổ chức kháng chiến khác, kể cả Ủy ban kháng chiến xã Hanh Thông cũng lần lượt rút về đây xây dựng căn cứ. Nhân dân An Phú Đông -Thạnh Lộc sau khi lập trạm đón tiếp từng đoàn người tản cư từ thành phố ra, lại nhanh chóng bắt tay vào việc tiếp tế, bố trí nơi trú đóng của các cơ quan, đơn vị.
Nhân dân ấp Đông Nhứt chọn những ngôi nhà khang trang nhất, những gian rộng rãi, kể cả chỗ gần nơi thờ cúng thiêng liêng, bàn tủ, giường chiếu và tiện nghi có thể có được giành cho cán bộ, chiến sĩ ăn ở, làm việc. Thanh niên phụ nữ các ấp tham gia tiếp tế, cấp dưỡng.
Nam giới từ 18 đến 50 tuổi luân phiên canh gác những nơi xung yếu ven sông Sài Gòn và những giao lộ dẫn vào xã. Các trạm gác được lập dọc theo bờ sông Sài Gòn từ Vàm Thuận đến Thạnh Lộc, nối báo với nhau bằng tín hiệu mõ, tù và.
Các công sự, ụ chiến đấu được đào khắp các nơi. Tại đây, Tỉnh ủy Gia Định, Ủy ban kháng chiến tỉnh (do Nguyễn Văn Dung và Nguyễn Văn Công làm chủ tịch và phó chủ tịch) đã đề ra những chủ trương, chỉ đạo cuộc kháng chiến trong những tháng cuối năm 1945, đầu năm 1946.
Tổng Công đoàn Nam Bộ (do Lý Chính Thắng làm Tổng thư ký) lập trạm đón tiếp công nhân từ nội thành ra. Tại nhà ông Tư Quyền là thân hào làng Thạnh Phú, tòa soạn báo “Cảm tử” xuất bản 4.000 tờ mỗi số (mỗi tháng 6, 7 số) bí mật đem vào phát hành trong thành phố và gửi đi các tỉnh Nam Bộ.
Xưởng vũ khí gần nhà ông Mười Bò và trong chòi giữ thơm của ông Mười Nguyễn mỗi ngày nhồi được 50 viên đạn, sản xuất 50 lựu đạn, và một số vũ khí thô sơ khác.
Cũng từ đây, các đơn vị vũ trang Lý Thường Kiệt, Ký Con, Trần Cao Vân, Quang Trung, Nguyễn An Ninh… xuất phát đi hoạt động đánh giặc ở Gò Vấp, Bà Chiểu, Phú Nhuận, Tân Định.
Giặc Pháp nhiều lần đưa quân tấn công An Phú Đông hòng tiêu diệt cơ quan đầu não và các lực lượng kháng chiến ở đây.
Trong cuộc càn đầu tiên vào căn cứ này ngày 15 tháng 12 năm 1945, quân Pháp cùng quân Anh, Ấn có pháo binh, máy bay, tàu chiến yểm trợ bao vây chặt ấp Đông Nhứt. Hàng ngàn tên sục vào một khu vực nhỏ lục soát, bắn giết, đốt phá, từ sáng sớm đến 1 giờ chiều.
Chúng đốt phá hơn 30 nhà dân, phá hủy hơn một nửa số lương thực thực phẩm, doanh trại, kho tàng, ghe xuồng, bắt đi 35 thanh niên và 10 cụ già.
sau trận càn, Pháp đóng chung quanh An Phú Đông một loạt đồn bốt: đồn Bình Lợi, bót ông Dầu, bót Bình Phước, bót Lập Be, bót Vĩnh Phú (Lái Thiêu), bót Bến Cát, Bót An Nhơn, bót Ba Thôn, chốt trục giao thông Gò Vấp đi Nhị Bình và Lái Thiêu.
Thực hiện chỉ thị của khu về xây dựng căn cứ địa, hội nghị cán bộ tỉnh Gia Định tại vườn Cau Đỏ, xã Thạnh Lộc (ngày 25 tháng 12 năm 1945) quyết định chính thức thành lập chiến khu An Phú Đông.
Cụm danh từ “Chiến khu An Phú Đông” cùng với những câu thơ của nhà thơ Xuân Miễn trở thành biểu tượng của cuộc chiến đấu gian khổ những ngày đầu kháng chiến ở ngoại vi Sài Gòn năm 1946:
“Bạn đã từng nghe An Phú Đông
Một làng nho nhỏ ở ven sông.
Một năm chinh chiến! Ôi chinh chiến!
Sóng nước Sài Gòn nhuộm máu hồng.
Từ đấy đất này vang tiếng súng
Âm thầm mưa gió… bóng quân đi
Trên đường gặp lại bao nhiêu mộ
Của những người đi chẳng trở về
An Phú Đông! Đây An Phú Đông!
Trả lời tiếng gọi của non sông
Trẻ già đã biết hi sinh hết.
Biết trả thù chung đổ máu hồng”.



