ANH HÙNG LIỆT SĨ – BÁC SĨ NGÔ ĐÌNH QUỲ: NGƯỜI CHIẾN SĨ ÁO TRẮNG QUYẾT TỬ ĐÁNH BẠI “BẠO CHÚA RỪNG GIÀ” NƠI BIÊN GIỚI TÂY NAM
ANH HÙNG LIỆT SĨ – BÁC SĨ NGÔ ĐÌNH QUỲ: NGƯỜI CHIẾN SĨ ÁO TRẮNG QUYẾT TỬ ĐÁNH BẠI “BẠO CHÚA RỪNG GIÀ” NƠI BIÊN GIỚI TÂY NAM
Đồng chí Ngô Đình Quỳ sinh năm 1930 tại xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên (nay thuộc phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Bản lĩnh và lòng yêu nước của ông bộc lộ từ rất sớm; tháng 3 năm 1946, khi mới 16 tuổi, chàng thiếu niên Ngô Đình Quỳ đã trốn gia đình, viết đơn tình nguyện nhập ngũ để nối gót hai người anh trai ra chiến khu. Nhờ sự thông minh, học giỏi và lòng tận tụy, ông được quân đội cử đi đào tạo từ y tá, nâng cao lên y sĩ rồi xuất sắc tốt nghiệp Bác sĩ, chuyên khoa cấp 2.
Trải qua những năm tháng rèn luyện, ông đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm khoa Sốt rét thuộc Viện Vệ sinh phòng dịch Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần) và trở thành một trong những chuyên gia đầu ngành về dịch tễ học trong quân đội.
Đầu thập niên 1980, chiến trường biên giới Campuchia - Thái Lan bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Tại các địa bàn đóng quân của Trung đoàn 14 Bộ đội Biên phòng như Oddor Meanchey, Battambang hay Pursat, dịch sốt rét ác tính hoành hành dữ dội do muỗi rừng biến thể. Tỷ lệ bộ đội mắc bệnh và hy sinh do sốt rét cao điểm còn lớn hơn cả thương vong trong chiến đấu, đe dọa trực tiếp đến sức mạnh chiến đấu của toàn quân.
Thấu hiểu nỗi đau của đồng đội, đầu năm 1983, mặc cho tuổi tác đã cao và gia đình đã có hai người anh trai hy sinh, Trung tá Ngô Đình Quỳ khảng khái tình nguyện sang Campuchia, trực tiếp làm Tổ trưởng tổ quân y của Bộ Quốc phòng bám trụ tại vùng “rốn dịch”.
Tại vùng đất Pursat sát biên giới — nơi từng bị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gạch chéo màu hồng cảnh báo là “vùng đất c.h.ế.t” cấm sinh sống, Bác sĩ Ngô Đình Quỳ cùng các đồng nghiệp đã sống và làm việc trong những điều kiện kham khổ, thiếu thốn trăm bề.
Công việc hằng ngày của ông là lặn lội đến tận các chốt tiền tiêu, trực tiếp lấy máu của bộ đội để soi trên kính hiển vi, kiên nhẫn đếm từng hồng cầu và ký sinh trùng. Từ những mẫu tiêu bản thủ công ấy, ông đã phát hiện ra sự biến thể nguy hiểm của chủng ký sinh trùng sốt rét tại đây, kịp thời báo cáo về Bộ Quốc phòng để thay đổi toàn bộ phác đồ phòng và điều trị thuốc cho bộ đội. Sự hiện diện và tinh thần làm việc quên mình của ông đã trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc, tiếp thêm niềm tin chiến thắng cho hàng vạn chiến sĩ tình nguyện.
Cuối năm 1984, sau một chuyến về nước ngắn ngày, vị bác sĩ già lại lặng lẽ nắm cơm, gói muối vừng để quay trở lại tuyến lửa lần thứ hai nhằm hoàn thiện công trình nghiên cứu và tiếp tục cứu chữa thương binh. Thế nhưng, giữa tháng 5 năm 1985, tại trọng điểm sốt rét ác tính cách thị xã Krong Pursat 12 km về phía tây, trong lúc đang quay cuồng cứu chữa cho các chiến sĩ, Bác sĩ Ngô Đình Quỳ đã bị lây nhiễm chính căn bệnh sốt rét ác tính biến thể.
Nhận được tin dữ, Đại tướng Lê Đức Anh — Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam đã lập tức lệnh cho Quân chủng Không quân điều trực thăng khẩn cấp sang đưa ông về nước cứu chữa. Tuy nhiên, do cơ thể đã kiệt quệ sau nhiều năm nếm mật nằm kề cùng bộ đội nơi rừng thẳm, ông đã anh dũng hy sinh vào ngày 20 tháng 5 năm 1985, chỉ chưa đầy 24 giờ sau khi nhập viện.
Sự hy sinh của Bác sĩ Ngô Đình Quỳ là một tổn thất vô cùng to lớn nhưng những thành quả ông để lại là vô giá. Những biện pháp phòng chống dịch do ông đề xuất đã giúp Trung đoàn 14 nâng tỷ lệ quân số khỏe lên 80%, kéo giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét ác tính năm 1984 xuống chỉ còn 25% so với năm trước đó. Ghi nhận công lao đặc biệt xuất sắc và sự hy sinh anh dũng vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, ngày 29 tháng 8 năm 1985, Đảng và Nhà nước đã trang trọng truy tặng Trung tá - Bác sĩ Ngô Đình Quỳ danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Từ một chàng thiếu niên trốn nhà đi bám đất chiến khu cho đến người Thầy thuốc Anh hùng ngã xuống nơi biên viễn, cuộc đời của Liệt sĩ Ngô Đình Quỳ là bài ca bất tử về y đức và lòng quả cảm của người thầy thuốc chiến sĩ. Ông đã chọn từ bỏ danh vọng, từ bỏ mái nhà ấm áp nơi phố cổ Yên Thái để đổi lấy sự sống cho hàng vạn đồng đội, dùng chính mạng sống của mình để bẻ gãy lưỡi hái tử thần của căn bệnh sốt rét rừng. Tấm gương trung kiên, khẳng khái và tự lực của ông không chỉ để lại niềm tự hào sâu sắc cho gia đình, vợ con mà mãi mãi là ngọn đuốc sáng ngời soi đường cho các thế hệ thầy thuốc quân y hôm nay và mai sau bước tiếp.



