Anh hùng Liệt sĩ Dương Minh Châu
Cuộc đời của ông Dương Minh Châu và con đường cách mạng
Ông Dương Minh Châu sinh ngày 09/3/1912 tại làng Ninh Thạnh – Tổng Hoà Ninh – Huyện Châu Thành – Tỉnh Tây Ninh cũ, nay là phường Tân Ninh tỉnh Tây Ninh.
Thuở nhỏ, Ông đã là một học sinh xuất sắc, khi học tại Lyce’e Petrus Trương Vĩnh Ký (nay là trường THPT Lê Hồng Phong – Tp. HCM). Ông học Ban A đạt Hạng Nhất vaø được ghi tên vào Bảng Danh dự của trường. Thời sinh viên học ở trường Cao đẳng Đông Dương (Hà Nội), Ông không những nổi tiếng học giỏi mà còn hăng hái tham gia các hoạt động xã hội; được giới sinh viên tín nhiệm bầu làm Hội trưởng Tổng hội sinh viên Đông Dương.
Năm 1938, Ông tốt nghiệp Cử nhân Luật loại xuất sắc; nhà cầm quyền Pháp tìm mọi cách để Ông chịu thành “dân Tây” (nhập quốc tịch Pháp) với nhiều viễn cảnh tươi sáng, được nhiều bổng lộc nhưng tất cả đều bị Ông từ chối.
Cách mạng Tháng 8 thành công (năm 1945), Ông tham gia Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ; Ông là cầu nối quan trọng trong việc tạo nên mối liên kết trong các lực lượng kháng chiến, các tầng lớp nhân dân nhằm động viên mọi người đoàn kết chung lo việc cứu nước.
Với uy tín của mình, Ông cũng đã tuyên truyền, vận động kêu gọi được rất nhiều viên chức, trí thức của tỉnh nhà hướng về kháng chiến.
Đến 1946, ông tham gia kháng chiến Nam Bộ, đại biểu quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, được giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Kháng chiến Tây Ninh.
Trong khi đó tại miền Nam Việt Nam, đạo Cao Đài công khai chống Việt Minh vì bất đồng quan điểm về chiến lược chống Pháp từ tháng 1 năm 1946. Ông là người đại diện Việt Minh đến thương thuyết với Phạm Công Tắc (Giáo chủ đạo Cao Đài lúc bấy giờ). Bị thực dân Pháp phục kích hi sinh ngày 7 tháng 2 năm 1947 tại ấp Bến Cừ xã Ninh Điền huyện Châu Thành (Tây Ninh).
Năm 1949 căn cứ Trà Vọng được đổi tên thành căn cứ Dương Minh Châu. Tháng 5 năm 1951, huyện căn cứ Dương Minh Châu được thành lập.
Theo tài liệu của Ban Đạo Sử Tòa Thánh Tây Ninh lưu trữ có tường thuật như sau:
Sau khi gặp Đức Hộ pháp xong, đích thân Hồ Tấn Khoa đưa Dương Minh Châu về mật khu. Khi từ giã Ngài hỏi Dương Minh Châu tới đây đã an toàn chưa? Dương Minh Châu nói là đã an toàn nên Hồ Tấn Khoa từ giã Dương Minh Châu để về Toà Thánh Tây Ninh. Trước khi về ông có dặn Dương Minh Châu là có nghe được một tin mật là lính Pháp sẽ ruồng bố vào ngày mai, các anh em trong khu hãy cẩn thận.
Sau khi Hồ Tấn Khoa về, Dương Minh Châu cho rút cán bộ ở các trạm gác bên ngoài hết. Thay vì về thẳng mật khu, ông cùng các đồng chí của mình còn đi quan sát khắp nơi, coi có thi hành chu đáo hay không.
Đến xế chiều ông mới về tới mật khu, gặp người vợ ở ngoài Tây Ninh ẵm đứa con độ 2 đến 3 tuổi vào chờ thăm. Vợ chồng cha con gặp nhau mừng rỡ, chừng nói chuyện thì đã quá trễ, gần tối không vào Tây Ninh kịp, nhưng tin tưởng nơi các hầm bí mật, không ai phát giác được nên để vợ con ở lại nghỉ đêm ở mật khu đến sáng sẽ đưa về. Không ngờ nội đêm đó quân Pháp vô tới không hay, vì các trạm gác bên ngoài đã cho rút hết rồi, không ai báo tin. Đến chừng bọn Pháp vô gần tới, thì mạnh ai nấy chạy trốn, theo nhiều hầm bí mật đã đào sẵn. Rủi cho Dương Minh Châu lúc chạy trốn lại ẵm đứa con nhỏ theo, còn vợ thì chạy hầm khác. Khi bọn Pháp vô tới nơi kiếm không thấy ai hết, nên bắn súng la hét om sòm làm cho em nhỏ hoảng sợ, phát khóc. Do đó quân Pháp truy ra chỗ Dương Minh Châu ẩn núp lôi ra bắn chết bỏ thây tại chỗ và bắt em nhỏ đem về Tây Ninh. Kiếm không được ai nữa quân Pháp mới rút đi hết, chừng đó anh em trở ra mới hay Dương Minh Châu đã chết.
Tặng thưởng & Đường mang tên Ông:
Truy tặng danh hiệu: Ngày 25/4/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh truy tặng ông Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.Khu căn cứ lịch sử: Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, năm 1951, Xứ ủy Nam Bộ đã lấy tên ông đặt cho chiến khu kháng chiến trù phú và kiên cường: Căn cứ Dương Minh Châu (hiện là Khu Di tích lịch sử cấp quốc gia nằm tại xã Cầu Khởi, Tây Ninh). Vùng đất anh hùng: Ngày nay, tinh thần "thời hoa lửa" năm xưa vẫn luôn sống mãi. Tên của ông không chỉ được đặt cho huyện Dương Minh Châu cũ (Tây Ninh) ngày nay, mà còn được lấy để đặt cho rất nhiều ngôi trường, tuyến đường trên khắp cả nước.



