Anh hùng, Liệt sĩ Lâm Úy – Người con kiên cường của đất lửa Bình - Trị - Thiên
Tác giả : Đồng Thị Như Quỳnh Lớp : K15A.GDMN Trường Đại học Hải Dương
Trong dòng chảy lịch sử vàng son của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ đã ghi dấu chân của biết bao người anh hùng ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Một trong những biểu tượng sáng ngời về lòng dũng cảm, ý chí kiên cường bất khuất của thế hệ thanh niên thuở ấy chính là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lâm Úy. Câu chuyện về cuộc đời và sự hy sinh anh dũng của ông trong trận chiến Xuân Bồ oanh liệt năm 1950 mãi mãi là một khúc tráng ca bất tử, để lại niềm tự hào sâu sắc cho thế hệ mai sau.
Người chiến sĩ kiên trung ấy sinh năm 1926 tại xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch (nay thuộc thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo có sáu người con, ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Lâm Úy đã phải trải qua những ngày tháng đi ở, làm thuê cuốc mướn để phụ giúp gia đình kiếm sống qua ngày. Cuộc sống cơ cực dưới ách đô hộ của thực dân và phong kiến đã sớm nhen nhóm trong lòng người thiếu niên ấy ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc. Mùa thu năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, mang ánh sáng tự do đến cho những kiếp người nghèo khổ. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, vào tháng 9 năm 1945, Lâm Úy hăng hái xung phong nhập ngũ. Ông tình nguyện tham gia vào đoàn quân Nam tiến, trực tiếp cầm súng chiến đấu tại chiến trường Bình - Trị - Thiên khói lửa – nơi đang diễn ra những trận giằng co ác liệt nhất với quân thù.
Trong suốt quá trình hoạt động từ năm 1947 đến năm 1950, với tư cách là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và là Tiểu đội phó bộ binh thuộc Đại đoàn 325, Lâm Úy đã trực tiếp tham gia hơn 30 trận đánh lớn nhỏ. Ở bất kỳ hoàn cảnh nào, người chiến sĩ trẻ cũng luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, bình tĩnh, mưu trí và xông xáo đi đầu. Đồng đội nhớ về Lâm Úy với một phong cách chiến đấu kiên cường đến gan lì; dù trận địa chỉ còn lại một mình ông vẫn quyết không lùi bước, súng gãy thì dùng mã tấu, súng hết đạn thì xông lên đánh giáp lá cà, giật vũ khí của giặc để tiếp tục tiêu diệt đối phương. Ý chí chiến đấu ngoan cường ấy đã giúp tiểu đội của ông lập được nhiều chiến công xuất sắc, bẻ gãy nhiều đợt tiến công nguy hiểm của kẻ thù.
Đỉnh cao của tinh thần hy sinh oanh liệt của Lâm Úy diễn ra vào ngày 20 tháng 5 năm 1950 trong trận chống càn tại Xuân Bồ. Khi đó, thực dân Pháp tập trung một lực lượng tinh nhuệ nhằm bao vây và càn quét vùng quê bên dòng sông Kiến Giang. Đơn vị của Lâm Úy nhận nhiệm vụ vượt sông, chặn đánh một tiểu đoàn lính Lê dương sừng sỏ của địch. Cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt và không cân sức từ 9 giờ sáng đến 14 giờ chiều. Dưới làn mưa bom bão đạn, tiểu đội của Lâm Úy đã kiên cường đẩy lùi liên tiếp 10 đợt phản kích dữ dội của địch. Trong lúc chiến đấu gay gắt, khẩu súng trên tay Lâm Úy bị trúng đạn gãy nát. Không một chút do dự, ông rút lưỡi lê xông thẳng vào đội hình giặc, đâm chết liên tiếp nhiều tên. Khi lưỡi lê cũng bị gãy, bằng võ nghệ và sức mạnh từ lòng căm thù, Lâm Úy lao vào quật ngã tên sĩ quan chỉ huy Pháp. Thấy chỉ huy bị khống chế, những tên lính Pháp xung quanh hoảng loạn xả súng điên cuồng vào anh. Dù bị trúng nhiều vết thương rất nặng, máu nhuộm đỏ áo, nhưng Lâm Úy vẫn dùng hết chút sức lực cuối cùng, ghì chặt lấy tên giặc kéo cả hai cùng lăn xuống dòng sông Kiến Giang đang cuộn chảy. Ông cùng kẻ thù quần lộn dưới nước cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Khi trận đánh kết thúc, đồng đội vớt thi thể ông lên, đôi bàn tay của người tiểu đội phó 24 tuổi vẫn ghì chặt lấy xác tên giặc Pháp trong tư thế tiến công hiên ngang. Trận Xuân Bồ năm ấy ta đại thắng, tiêu diệt 500 tên địch, tạo nên một mốc son lịch sử hào hùng.
Sự hy sinh của Tiểu đội phó Lâm Úy là minh chứng hùng hồn cho ý chí "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của quân và dân ta. Để ghi nhận công lao đặc biệt xuất sắc của ông, ngày 31 tháng 8 năm 1955, Nhà nước đã truy tặng cho ông Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện về người anh hùng Lâm Úy bên dòng sông Kiến Giang sẽ mãi là bài học lịch sử sống động, tiếp thêm ngọn lửa lòng yêu nước và lòng biết ơn sâu sắc cho các thế hệ học sinh chúng em hôm nay.



