ANH HÙNG LIỆT SĨ NGÔ MÂY – NGƯỜI CẢM TỬ QUÂN ÔM BOM LAO VÀO XE GIẶC VÀ TIẾNG NỔ THAY ĐỔI CỤC DIỆN CHIẾN TRƯỜNG
Có những cái chết đã hóa thành bất tử, có những con người mà tên tuổi của họ gắn liền với khoảnh khắc làm rung chuyển cả chiến trường. Khi Tổ quốc lâm nguy trước gót giày xâm lược của thực dân Pháp, một thế hệ thanh niên Việt Nam đã sẵn sàng dâng hiến tuổi thanh xuân, biến cơ thể mình thành những khối thuốc nổ, những quả bom cảm tử lao thẳng vào đội hình quân thù. Họ ra đi không một lời trăn trối, không một chút đắn đo, chỉ để lại một tiếng nổ vang dội sông núi và một bài ca kiêu hùng về tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Trong số những anh hùng cảm tử lẫy lừng ấy, người chiến sĩ ôm bom ba càng Ngô Mây chính là biểu tượng rực sáng nhất, người đã khắc ghi một huyền thoại bất tử vào trang sử vàng của đại ngàn Tây Nguyên.
Người anh hùng quả cảm ấy sinh năm 1924 tại thôn Vân Triêm, xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo làm nghề dệt và bán chiếu, cha lại mất sớm, ngay từ thuở nhỏ, Ngô Mây đã phải lao động cực nhọc để phụ giúp mẹ già và nuôi sống bản thân.
Qua lời kể đầy xúc động của người cựu Chính trị viên Đại đội Quyết tử – Thiếu tướng Đoàn Y Thanh, Ngô Mây hiện lên là một chàng trai có dáng người cao lớn, mái tóc húi cua cá tính, khuôn mặt chữ điền cương nghị nhưng lại sở hữu cặp mắt hay cười, tính tình vui vẻ và được cả đơn vị vô cùng quý mến.
Năm 1945, khi ngọn lửa cách mạng bùng cháy, anh hăng hái tham gia Việt Minh giành chính quyền tại quê nhà Phù Cát, trở thành đội viên "Đội tự vệ sắt" làng Vân Triêm rồi tham gia du kích xã, kiên cường chiến đấu bảo vệ xóm làng khi thực dân Pháp quay lại tái chiếm Đông Dương.
Tháng 4/1947, anh chính thức nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Quyết tử thuộc Tiểu đoàn 50, Trung đoàn 94, Khu 5. Giữa lúc toàn quân còn muôn vàn khó khăn, cả đại đội 160 chiến sĩ nhưng vũ khí vô cùng thô sơ, chủ yếu là mã tấu, chai xăng và chỉ có vài quả bom cải tiến. Vì đơn vị thiếu súng, Ngô Mây đã nhận giữ một quả bom ba càng (hoặc bom cải tiến nặng 25kg) và là người đầu tiên xung phong nhận nhiệm vụ đánh bom cảm tử khi ban chỉ huy chọn người thực hiện trận quyết chiến.
Khoảnh khắc lịch sử diễn ra vào ngày 22/10/1947 tại Rộc Dứa (gần cầu Suối Vối, cách An Khê 3km về phía đông bắc). Khi đội hình phục kích của ta gặp bất lợi do vũ khí thô sơ, súng trường hết đạn, quân địch lố nhố đông đúc quanh chiếc xe thiết giáp AM lù lù tiến vào, tên chỉ huy Pháp đứng trên xe huênh hoang quát lớn dọa nạt: "Việt Minh đâu?".
Ngay lập tức, một bóng dáng cao lớn ôm chặt quả bom lao vút ra khỏi bụi rậm cùng tiếng hét đanh thép: "Việt Minh đây!". Tiếng nổ rền trời đất vang lên, chiếc xe bọc thép của địch bốc cháy ngùn ngụt, tiêu diệt tại chỗ một trung đội lính Âu Phi sừng sỏ. Sự hy sinh oanh liệt và tiếng bom của Ngô Mây đã làm đảo lộn hoàn toàn tình thế, khiến quân giặc hoảng loạn tháo chạy, giúp bộ đội ta thừa thắng xông lên làm chủ hoàn toàn chiến trường.
Ngô Mây ngã xuống khi tuổi đời mới vừa tròn 23, độ tuổi rực rỡ nhất của đời người. Hành động dũng cảm "quyết tử" của anh đã làm chấn động toàn quân, nhận được thư khen ngợi thiêng liêng từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trở thành ngọn đuốc tinh thần cổ vũ cho toàn thể thế hệ thanh niên thời bấy giờ.
Ngay sau khi anh hy sinh, Chính phủ đã truy tặng cho anh Huân chương Quân công hạng Nhì. Đặc biệt, vào ngày 31/8/1955, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trang trọng truy tặng đồng chí Ngô Mây danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (Anh hùng quân đội) ngay trong đợt phong tặng đầu tiên của đất nước.
Sự ra đi của người cảm tử quân họ Ngô đã hóa thành một biểu tượng bất tử vào lòng đất mẹ. Để tri ân và tôn vinh người con anh hùng của quê hương, tên của ông đã được trân trọng đặt cho nhiều đường phố, công viên, trường học trên khắp cả nước, và quê hương Cát Chánh xưa giờ đây cũng tự hào mang tên xã Ngô Mây. Di sản mà Anh hùng Ngô Mây để lại cho hậu thế không chỉ là một chiến công vang dội trên chiến trường Suối Vối, mà là ngọn lửa rực cháy của lòng yêu nước, ý chí tự tôn dân tộc sâu sắc.
Câu chuyện về người chiến sĩ ôm bom lao vào xe giặc ngày ấy sẽ mãi là bài học vô giá, là niềm tự hào to lớn để các thế hệ trẻ hôm nay soi mình, không ngừng phấn đấu bảo vệ và xây dựng non sông Việt Nam ngày càng giàu đẹp.


