ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN BÁ TÙNG (1925-1972) – NGƯỜI BÍ THƯ RÚT CHỐT LỰU ĐẠN CHIẾN ĐẤU ĐẾN HƠI THỞ CUỐI CÙNG
ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN BÁ TÙNG (1925-1972) – NGƯỜI BÍ THƯ RÚT CHỐT LỰU ĐẠN CHIẾN ĐẤU ĐẾN HƠI THỞ CUỐI CÙNG
"Khi khẩu súng đã hết đạn, ông vẫn còn một quả lựu đạn cuối cùng. Và ông chọn mang kẻ thù đi cùng mình, chứ không để chúng bắt sống."
Đó là những giây phút cuối cùng của Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Bá Tùng, người Bí thư kiêm Chính trị viên Khu II, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Suốt gần ba thập kỷ hoạt động cách mạng, ông đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, để rồi anh dũng hy sinh giữa vòng vây của quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn bằng tinh thần bất khuất của một người cộng sản.
Đồng chí Nguyễn Bá Tùng sinh năm 1925 tại làng Dương Sơn, xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Khi hy sinh, ông là Bí thư kiêm Chính trị viên Khu II, huyện Hòa Vang, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Nguyễn Bá Tùng nhanh chóng gia nhập lực lượng Việt Minh, tích cực vận động quần chúng đứng lên giành chính quyền. Ngày 22 tháng 8 năm 1945, ông trực tiếp tổ chức, lãnh đạo hàng nghìn nhân dân Hòa Tiến hòa vào dòng người khởi nghĩa tại Hòa Vang, góp phần lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến ở địa phương. Từ đó, cuộc đời ông gắn liền với những năm tháng chiến đấu không ngừng nghỉ vì nền độc lập của Tổ quốc.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Nguyễn Bá Tùng tập kết ra Bắc theo quy định. Nhưng trước cảnh đất nước bị chia cắt, đồng bào miền Nam tiếp tục sống dưới ách thống trị của chính quyền Ngô Đình Diệm cùng sự hậu thuẫn của Mỹ, ông nhiều lần tha thiết xin được trở lại chiến trường.
Cuối năm 1959, giữa lúc chính quyền Ngô Đình Diệm mở chiến dịch "tố cộng, diệt cộng", lê máy chém đi khắp miền Nam nhằm đàn áp lực lượng cách mạng, Nguyễn Bá Tùng bí mật trở lại Hòa Vang. Ông nhanh chóng khôi phục cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng, tổ chức du kích và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài.
Đêm 4 tháng 3 năm 1963, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng du kích xã Thanh Sơn phục kích, bắt sống nguyên một trung đội dân vệ. Thay vì tiêu diệt, ông cho áp giải họ về căn cứ để giáo dục, cảm hóa. Sau đó, nhiều người nhận ra sai lầm, tự nguyện gia nhập lực lượng cách mạng hoặc bí mật hoạt động trong hàng ngũ đối phương để phục vụ công tác binh vận.
Tháng 7 năm 1963, Nguyễn Bá Tùng tiếp tục chỉ đạo du kích đánh sập cầu Cẩm Lệ nhằm cắt đứt tuyến chi viện của quân địch, tạo điều kiện để Huyện đội Hòa Vang tiến công đồn Hòa Thọ, tiêu diệt hàng chục tên địch.
Đến tháng 8 năm 1964, ông cùng Ban Thường vụ Huyện ủy Hòa Vang phát động phong trào phá "ấp chiến lược" trên diện rộng. Dưới sự lãnh đạo của ông, nhân dân 17 xã đồng loạt nổi dậy phá rào, trở về quê cũ sản xuất, kết hợp đấu tranh chính trị, binh vận và vũ trang theo phương châm "ba mũi giáp công", làm lung lay hệ thống kiểm soát của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại Hòa Vang.
Năm 1966, địch triển khai chiến thuật "ly sơn", cưỡng ép hàng nghìn người dân xã Hòa Châu tập trung tại đình làng Quan Châu để tuyên truyền chống cách mạng. Nhận thấy đây là âm mưu nguy hiểm nhằm cô lập lực lượng kháng chiến với nhân dân, Nguyễn Bá Tùng tự mình xây dựng kế hoạch tác chiến.
Ông chỉ đạo các du kích cải trang thành người dân, bí mật trà trộn vào đám đông. Khi cuộc tuyên truyền của địch chưa kịp bắt đầu, lực lượng du kích bất ngờ nổ súng, vừa bảo đảm an toàn cho nhân dân vừa tiêu diệt 42 tên, làm bị thương hơn 20 tên thuộc lực lượng bình định của đối phương.
Rạng sáng ngày 23 tháng 8 năm 1968, Nguyễn Bá Tùng tiếp tục trực tiếp chỉ huy Huyện đội Hòa Vang phối hợp cùng du kích tập kích đồn Cẩm Chu Hương, tiêu diệt một tiểu đội nghĩa quân cùng nhiều tên ác ôn, giải phóng khu tập trung để người dân trở về quê cũ sinh sống.
Trong suốt năm 1969, chiến trường Khu II Hòa Vang diễn ra vô cùng ác liệt. Mỹ và quân đội Sài Gòn liên tục mở các cuộc càn quét với xe tăng, xe bọc thép, trực thăng và pháo binh nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bá Tùng, các đơn vị du kích đã liên tiếp đánh bại nhiều cuộc hành quân, tiêu diệt hơn 80 tên Mỹ và quân đội Sài Gòn, giữ vững phong trào cách mạng tại địa phương.
Ngày 27 tháng 7 năm 1972, trên đường từ cuộc họp của Đặc khu ủy Quảng Đà tại núi Hòn Tàu trở về, khi đến xã Điện Sơn (nay thuộc thị xã Điện Bàn, Quảng Nam), đoàn công tác của ông bất ngờ bị quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn đổ quân bao vây.
Lực lượng của Nguyễn Bá Tùng quá ít so với đối phương có xe tăng, xe bọc thép cùng hỏa lực mạnh yểm trợ.
Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt.
Dù bị thương nặng, gãy chân trái, ông vẫn bình tĩnh chỉ huy chiến đấu, liên tục bắn trả để giữ chân quân địch. Khi nhận thấy không còn khả năng giữ trận địa, ông ra lệnh cho đồng đội rút lui nhằm bảo toàn lực lượng, còn bản thân ở lại chặn hậu.
Ông chiến đấu đến khi viên đạn cuối cùng rời khỏi nòng súng.
Không còn đạn.
Không còn đường lui.
Nguyễn Bá Tùng lặng lẽ rút chốt quả lựu đạn M26 cuối cùng, nằm bất động giữa chiến trường.
Tưởng ông đã hy sinh, nhiều lính đối phương tiến đến định kéo thi thể ông đi nhằm thị uy phong trào cách mạng.
Đúng khoảnh khắc ấy...
Người chiến sĩ cộng sản bất ngờ vùng dậy.
Quả lựu đạn cuối cùng được tung ra.
Tiếng nổ vang lên giữa chiến trường.
Ba tên địch bị hạ gục tại chỗ.
Và Nguyễn Bá Tùng cũng anh dũng hy sinh, khép lại cuộc đời chiến đấu oanh liệt của mình ở tuổi 47.
Bốn mươi năm sau ngày hy sinh, để ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, ngày 20 tháng 7 năm 2012, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng đồng chí danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tên tuổi Nguyễn Bá Tùng mãi là biểu tượng của lòng quả cảm, ý chí kiên trung và tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Ông đã chiến đấu từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám cho đến khi ngã xuống giữa chiến trường chống Mỹ, để lại một tấm gương bất diệt về người cán bộ cách mạng suốt đời vì Đảng, vì nhân dân và vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.



