Bài viết

ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN NI – NGƯỜI THỢ RÈN CỦ CHI VÀ KHÍ TIẾT BẤT KHUẤT NƠI “ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN”

TP. Hồ Chí Minh14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ANH HÙNG LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN NI – NGƯỜI THỢ RÈN CỦ CHI VÀ KHÍ TIẾT BẤT KHUẤT NƠI “ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN”

Trong dòng chảy rực lửa và oanh liệt của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vùng đất thép Củ Chi đã sản sinh ra những người con ưu tú, mà cuộc đời họ là một bản anh hùng ca về lòng yêu nước, sự sáng tạo và ý chí kiên trung bất khuất. Giữa hàng vạn ngôi sao sáng trên bầu trời quê hương thành đồng ấy, Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Ni (thường gọi là Bảy Ni) nổi lên như một biểu tượng đặc biệt — một người thợ rèn bình dị đã dùng ngọn lửa lò than để đúc rèn vũ khí đánh giặc, dùng bản lĩnh quật cường để trực tiếp chỉ huy chiến đấu, và cuối cùng dùng chính máu xương cùng khí tiết lẫm liệt của mình để thắp sáng niềm tin chiến thắng ngay trong lòng "địa ngục trần gian" Phú Quốc.

Nguyễn Văn Ni sinh năm 1924 tại vùng đất giàu truyền thống cách mạng xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Lớn lên trong một gia đình bần nông có cha làm nghề thợ rèn, từ thuở thiếu thời, ông đã được truyền ngọn lửa nghề, quen với tiếng búa, quai đe và những thanh sắt rực đỏ dưới bàn tay nhào nặn khéo léo. Chính cái nghề nghiệp tưởng chừng như mộc mạc, lam lũ ấy sau này lại trở thành cái nôi kỹ nghệ độc đáo và thứ vũ khí sắc bén giúp ông cống hiến đặc biệt cho cách mạng.

Khi ngọn cờ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tung bay, người thanh niên họ Nguyễn đã sớm giác ngộ lý tưởng, hăng hái tham gia phong trào tại địa phương và chính thức bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược.

Nhận thấy Nguyễn Văn Ni là một người vừa có tay nghề rèn giỏi, vừa sở hữu tư duy thông minh, nhạy bén và óc sáng tạo vượt trội, tổ chức đã phân công ông về hoạt động tại Chi đội 312, đảm nhiệm công tác quân giới chuyên sửa chữa và sản xuất các loại vũ khí thô sơ. Trong những năm đầu kháng chiến đầy gian khổ và thiếu thốn, khi súng đạn của bộ đội ta còn vô cùng hạn chế, đôi bàn tay tài hoa của người thợ rèn Củ Chi đã ngày đêm nổi lửa, biến từng mảnh sắt vụn, vỏ bom mìn của địch thành những vũ khí tiện dụng, góp phần trực tiếp cùng bộ đội chiến đấu, tiêu hao sinh lực đối phương.

Với những đóng góp thầm lặng nhưng đầy hiệu quả ấy, năm 1947, Nguyễn Văn Ni vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau khi Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết, giữa lúc dòng người và các lực lượng kháng chiến miền Nam nô nức tập kết ra Bắc, Nguyễn Văn Ni nhận mệnh lệnh tối mật của cấp trên: ở lại bám trụ địa bàn, xây dựng cơ sở bí mật và gìn giữ phong trào cách mạng. Đây là giai đoạn vô cùng đen tối khi kẻ thù lê máy c.h.é.m khắp miền Nam nhằm diệt tuyệt cộng sản.

Để che mắt tai mắt dày đặc của địch, ông tiếp tục mở lò rèn, sống ẩn mình dưới vỏ bọc hợp pháp của một người thợ thủ công hiền lành. Nhưng phía sau tiếng búa quai đều đặn và màn khói than nghi ngút ấy là một xưởng quân giới bí mật, nơi ông lặng lẽ sửa chữa, chế tạo vũ khí cung cấp cho lực lượng vũ trang địa phương, trực tiếp đóng góp vào sự bùng nổ và thắng lợi vang dội của phong trào Đồng khởi tại Củ Chi đầu năm 1960.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi tiếng súng giải phóng vang lên, Nguyễn Văn Ni được tổ chức tin tưởng giao phụ trách công tác quân giới toàn huyện Củ Chi. Khởi đầu từ hai bàn tay trắng giữa chiến trường bị cày xới bởi bom đạn, ông đã lặn lội gây dựng nên những tổ quân giới đầu tiên với vỏn vẹn 11 chiến sĩ. Dưới sự điều hành của ông, xưởng quân giới Củ Chi đã liên tục cải tiến, chế tạo ra hàng loạt vũ khí tự tạo vô cùng hiệu quả như chông, mìn, lựu đạn, đặc biệt là loại súng “ngựa trời” khét tiếng — thứ vũ khí trở thành nỗi khiếp đảm cho các cuộc hành quân càn quét của địch, giúp du kích địa phương bám đất, giữ làng thành công.

Từ giữa năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam, Củ Chi trở thành mục tiêu đánh phá hủy diệt. Đầu tháng 1 năm 1966, quân đội Mỹ và Australia huy động khoảng 8.000 quân mở Chiến dịch quy mô lớn mang tên Crimp đánh thẳng vào khu vực Hố Bò nhằm tìm kiếm và triệt hạ hệ thống địa đạo, căn cứ ngầm của ta. Lúc này, Nguyễn Văn Ni đã được bổ nhiệm giữ chức Đại đội phó.

Từ người thợ rèn ngồi sau bệ củi, ông trực tiếp bước ra chiến trường càn, chỉ huy đơn vị đương đầu với thế giặc mạnh. Trên trận tuyến, Bảy Ni nổi tiếng là một chỉ huy gan dạ, mưu trí; ông đã trực tiếp mang những trái mìn tự tạo do chính tay mình đúc, băng qua làn mưa bom bão đạn để tiếp cận và đánh nổ tung nhiều xe bọc thép của đối phương, bẻ gãy nhiều mũi tiến công của địch trong chiến dịch chống càn.

Tuy nhiên, trong một trận chiến đấu ác liệt chống càn vào cuối năm 1966, Nguyễn Văn Ni không may bị sa vào ổ phục kích và bị địch bắt giữ. Ban đầu chúng giam cầm ông tại nhà lao Hố Nai, nhưng trước sự kiên trung của ông, đầu năm 1968, địch chuyển ông ra Trại giam Phú Quốc — nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian" với hệ thống chuồng cọp, dây kẽm gai dày đặc cùng những đòn tra tấn thâm độc nhất. Không chịu khuất phục trước gông cùm, Nguyễn Văn Ni tiếp tục biến nhà tù thành chiến trường mới.

Ông tham gia vào Ban Chấp hành Đảng ủy Phân khu tù binh A2 và được bầu làm Bí thư Đảng ủy, trực tiếp lãnh đạo anh em tù binh đấu tranh trực diện chống lại âm mưu “dùng tù trị tù” phản động của ban giám thị nhà tù.

Sự hoạt động tích cực của ông đã bị kẻ địch phát hiện qua sự chỉ điểm của kẻ phản bội. Nguyễn Văn Ni bị bắt đưa vào khu biệt giam và phải chịu đựng những cuộc tra khảo tàn bạo, khốc liệt nhất của những đòn tẩm quất, đóng đinh, đóng điện. Kẻ thù dùng mọi thủ đoạn dã man hòng buộc người Bí thư Đảng ủy phân khu phải khai ra mạng lưới tổ chức Đảng và phong trào đấu tranh trong trại giam. Thế nhưng, người chiến sĩ kiên cường ấy vẫn giữ vững dạ sắt lòng son.

Dù cơ thể bị tàn phá, mất nhiều máu và kiệt quệ sức lực, Bảy Ni vẫn không nửa lời khuất phục. Có những lúc bị đánh ngã gục, ông lại bấu chặt tay vào tường, cố gượng đứng dậy, phun ngụm máu bầm thẳng vào mặt kẻ thù và lớn tiếng vạch trần tội ác của chúng.

Ngày 9 tháng 6 năm 1970, sau chuỗi ngày dài bị t.r.a t.ấ.n vô nhân đạo, thân thể Anh hùng Nguyễn Văn Ni đã hoàn toàn kiệt sức. Biết mình không thể qua khỏi, ông dồn chút hơi tàn lực kiệt còn lại để nắm chặt tay các đồng chí, nhắn nhủ anh em ở lại phải giữ vững khí tiết, đoàn kết một lòng đấu tranh đến ngày độc lập hoàn toàn.

Trước khi trút hơi thở cuối cùng, người con ưu tú của Củ Chi đã dùng toàn bộ sức lực hô vang giữa phòng giam tối tăm:

“Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”.

Ông thanh thản nhắm mắt xuôi tay, hy sinh lẫm liệt ở tuổi 46, để lại niềm tiếc thương vô hạn và ngọn lửa căm thù rực cháy trong lòng các đồng chí.

Ghi nhận những công lao to lớn và sự hy sinh anh dũng, kiên trung của ông, ngày 22 tháng 7 năm 1998, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Quyết định số 342/KT/CTN truy tặng liệt sĩ Nguyễn Văn Ni danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Để tri ân người con kiệt xuất, tên của ông đã được đặt trang trọng cho tuyến đường số 21 (đường Nguyễn Văn Ni) tại thị trấn Củ Chi, nối liền từ Quốc lộ 22 đến Tỉnh lộ 8 với chiều dài hơn 1,2km, ngày ngày chứng kiến sự thay da đổi thịt của quê hương đất thép.

Từ một người thợ rèn bần nông đến người chiến sĩ quân giới mưu trí, từ một chỉ huy dũng cảm trên chiến trường đến vị Bí thư Đảng ủy kiên trung nơi ngục tù tăm tối, cuộc đời của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Ni là một minh chứng hùng hồn cho ý chí sắt đá của thế hệ cha anh đi trước. Ông đã sống, chiến đấu và hy sinh bằng tất cả bàn tay, khối óc và tấm lòng thủy chung son sắt với Đảng, với Tổ quốc. Dù ngã xuống giữa chốn "địa ngục trần gian", nhưng khí tiết bất khuất của "người thợ rèn Củ Chi" Bảy Ni vẫn mãi là ngọn đuốc sáng, ngàn năm soi rọi cho các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau trên con đường xây dựng, bảo vệ quê hương Việt Nam gấm vóc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn