Bài viết

ANH HÙNG LIỆT SĨ PHẠM THỊ MẾN

Vĩnh Long07/01/2026Nguyễn Trọng Hiếu (Xã Trà Côn)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chị Phạm Thị Mến sinh ngày 12/6/1939 tại ấp Ngãi Lộ, xã Trà Côn, huyện Trà Ôn .Chị được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp gia đình đó hầm nuôi chứa cán bộ cách mạng, cha chị là cán bộ cơ sở hợp pháp của xã, bị bọn mật thám chỉ điểm nên ông đã bị bắt và hy sinh ngày 14/3/1954, còn lại mình mẹ chăm sóc nuôi dưỡng 5 con và tiếp tục làm cơ sở nuôi chứa giúp đỡ cách mạng đến tháng 12/1958 bà qua đời sau một cơn bệnh đột ngột. Chị là con gái út trong một gia đình. Vì hoàn cảnh khó khăn túng thiếu nên chưa học hết lớp 2 phải bỏ học, đi làm mướn kiếm cơm sống qua ngày. Chị lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thống trị của thực dân Pháp, hàng ngày chứng kiến cảnh bốc lột vô cùng tàn ác của bọn xâm lược và tay sai bán nước đối với nhân dân đã hung đúc trong lòng chị truyền thống chống giặc nên chị sớm giác ngộ cách mạng. Đến tháng 10/1957 chị đã tham gia cách mạng và phụ trách giao liên xã Trà Côn rồi được rút về cơ quan huyện ủy Trà Ôn phụ trách công tác giao liên cho huyện ủy.

Đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khôn khéo đánh lạc hướng sự theo dõi của địch, bảo vệ an toàn đường dây liên lạc, đảm bảo tuyệt đối các công văn, chỉ thị mệnh lệnh cấp trên.

Trong quá trình hoạt động cách mạng có những giai đoạn rất khó khăn cam go buộc phải vượt qua như: 1958-1959, Ngô Đình Diệm ban hành luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền nam nhằm khủng bố và truy lùng những người kháng chiến, tuy bị địch kiềm kẹp theo dõi và có thể bị bắt, giết bất cứ lúc nào. Trong điều kiện nguy hiểm luôn đe doạ nhưng với việc xử lý tình huống rất mưu trí và gan dạ chị đã chuyển rất nhiều thư từ và tài liệu một cách an toàn mà không bị phát hiện.

Đến tháng 10/1958 đ/c được đứng vào hàng ngũ đoàn thanh niên cộng sản, trong suốt quá trình tham gia cách mạng đồng chí 3 lần bị địch bắt.

Lần 1: vào tháng 5/1959 trên đường chuyển thư cho huyện ủy ở xã Lục Sĩ Thành, bị giặc tình nghi đồng chí là giao liên nên chị bị địch bắt ở hàng đá xã Tân Mỹ, do tên cảnh sát Tình cầm đầu. Trong thời gian bị giam ở xã địch hết lời mua chuộc, dụ dỗ nhưng đồng chí không khai báo, địch dùng mọi cực hình tra tấn rất dã man như: 2 lần nhận nước đổ xà bông, 4 lần châm điện, 1 lần dùng chai lave thọt vào cửa mình và đánh đập chết đi sống lại nhiều lần nhưng với tinh thần vững vàng chị vẫn không khai báo. Sau đó dịch giải đồng chí lên quận trà ôn, tiếp tục tra tấn, địch dùng mọi cực hình dã man nhất là dùng sắc nung đỏ châm vào vú, lưng, nhưng đồng chí vẫn không khai báo cơ sở của ta. Cuối cùng địch giải lên nhà tù Phú Lợi giam gần hai năm. Sau đó địch thả chị về với đồng đội, quê hương, bà con chòm xóm đến thăm chị nói: "vấn thân làm cách mạng thì nể hà chi gian khổ" nhưng với nghị lực phi thường và lòng dũng cảm đã giúp chị vượt qua mọi khó khăn thử thách của bản thân, xin tổ chức cho tiếp tục công tác, huyện ủy quyết định cho đồng chí đến trạm quân y huyện đóng tại xã Hoà Bình để điều trị. Trong thời gian điều trị sức khoẻ chưa bình phục hẳn nhưng đồng chí vẫn kiên quyết xin huyện ủy cho tiếp tục công tác và được đồng chí Bảy Vân bí thư huyện ủy Trà Ôn chấp thuận cho đồng trở lại đơn vị công tác, phân công đồng chí làm đội trưởng du kích xã.

Lần thứ 2: ngày 14/7/1961, trong chuyến đi công tác ở Vàm Vòng đồng chí lọt vào ổ phục kích địch, bọn địch khám xét kỹ lưỡng nhưng vẫn không phát hiện gì, bọn địch ra sức tra tấn nhưng chị vẫn không khai báo, cuối cùng chúng tưởng bắt nhầm nên thả chị đi.

Lần thứ 3: ngày 18/12/1961, trong một trận chiến đấu với địch ở ấp Bang Chang xã Trà Côn với một trung đội dân vệ do tên Tình trực tiếp chỉ huy, bên ta có 4 du kích do đồng chí Tám Mến trực tiếp chỉ huy đã anh dũng chiến đấu với lực lượng địch đông hơn quân ta rất nhiều. Do địa bàn bất lợi cho du kích ta, trong cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt thì có 3 du kích ta đã anh dũng hy sinh (Lê Văn Ứng, Nguyễn Văn Năm, Nguyễn Văn Kinh) còn lại một mình đồng chí Tám Mến, trước tình hình ngàn cân treo sợ tóc đồng chí Tám Mến quyết giữ trận địa và tiếp tục chiến đấu đến khi súng hết đạn, đồng chí quyết định đập gãy súng không để lọt vào tay quân, còn lại một trái lựu đạn đồng chí đã xung phong với địch. Đồng chí đã anh dũng chiến đấu đến giây phút quyết liệt đó thì đồng chí bị thương và lọt vào tay địch. Trên đường giải về xã bọn địch thay phiên nhau đánh đồng chí bằng cây trâm bầu nhiều lần bị ngất xỉu, khi về xã bọn địch thông báo cho nhân dân biết bắt được "con nữ anh hùng Việt cộng" bọn chúng trói chị vào gốc dừa trước cửa ông Mười Thông cạnh chợ, thay phiên nhau dùng giày đinh đạp vào bụng, ngực đến khi chị ói ra máu bọn địch chưa chịu thôi. Đến 3 giờ chiều chúng lôi chị về xã và tiếp tục tra tấn nhưng chị một mực không khai báo cơ sở của ta. Bọn địch lấy kim ghim vào các đầu ngón tay của chị. Thấy vậy chị nói "tụi bây khỏi cần để tao ghim giùm cho", lập tức chị lấy kim ghim vào 10 đầu ngón tay đập thẳng xuống bàn trước bọn lính tra tấn. Những giọt máu từ từ rơi xuống mặt bàn làm cho bọn địch sửng sốt, khiếp sợ về hành động anh hùng của chị. Bọn địch biết không thể khai thác vì ở chị, và để trấn an bọn lính trong đồn, 11 giờ đêm ngày 19/12/1961 tên cảnh sát Tình hèn hạ ra lệnh cho tên Cà Nhanh đem đồng chí Phạm Thị Mến ra phía sau đồn bắn và lấp mất xác.

Liệt sĩ Phạm Thị Mến lúc công tác luôn tận tuỵ với công việc, lúc chiến đấu rất ngoan cường, giành khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội. trước lúc nguy hiểm đồng chí luôn bình tỉnh đối phó, khi sa vào tai giặc thì chị giữ vững khí tuyết của người lính cụ hồ. Cái chết của liệt sĩ Phạm Thị Mến là tấm gương điển hình cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Trà Ôn học tập về hành động anh hùng, đồng thời làm quân thù khiếp sợ, rất xứng đáng là người phụ nữ việt nam "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".

Với những thành tích đó ngày 11/6/1999 chị Phạm Thị Mến vinh dự được chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày nay trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều thuận lợi nhưng cũng không kém phần khó khăn, thử thách; trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc không biết bao thế hệ đã đổ xương máu mới giành được độc lập tự do. Ngày nay mỗi người chúng ta nhất là thế hệ trẻ phải ra sức học tập, trao dồi đạo đức để xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp, xứng đáng với những người đã ngã xuống cho độc lập hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn