Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót
Bản tin Liên Đội
Các Anh hùng dân tộc Việt Nam
Thứ năm, 22/4/2021, 9:44
Lượt đọc: 350929



1. Anh hùng Kim Đồng

Anh hùng Kim Đồng (tên thật là Nông Văn Dền) sinh năm 1928, dân tộc Nùng, tại bản Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khi hy sinh, Kim Đồng là đội trưởng Đội Nhi đồng Cứu quốc (Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ngày nay).
Sinh ra và lớn lên trong chiếc nôi của chiến khu cách mạng, khi còn nhỏ Kim Đồng đã sớm được cán bộ Việt Minh giáo dục, giác ngộ. Anh đã vận động các bạn cùng lứa tuổi trong bản làm nhiệm vụ liên lạc, chuyển công văn, tài liệu, đưa đón cán bộ, trinh sát nắm tình hình địch để cung cấp cho cán bộ.
Tháng 5 năm 1941, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đội Nhi đồng Cứu quốc. Kim Đồng là một trong số năm đội viên đầu tiên và được bầu làm đội trưởng Đội Nhi đồng Cứu quốc. Được rèn luyện thử thách, Kim Đồng luôn thể hiện trí thông minh, lòng dũng cảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Rạng sáng ngày 15 tháng 2 năm 1943, Kim Đồng được giao nhiệm vụ canh gác, bảo vệ cuộc họp bí mật của Trung ương Đảng. Địch phát hiện và cho một lực lượng khá lớn bao vây hòng bắt sống các đồng chí lãnh đạo của Đảng. Trước tình thế nguy hiểm, Kim Đồng đã mưu trí đánh lạc hướng, lừa địch tập trung lực lượng và hoả lực về phía mình, đồng thời phát tín hiệu cho các đồng chí cán bộ rút lui an toàn. Kim Đồng đã anh dũng hy sinh khi anh vừa tròn 15 tuổi, anh đã nêu tấm gương sáng chói cho các thế hệ thanh, thiếu niên và mọi người Việt Nam noi theo.
Ngày 23 tháng 9 năm 1997, Nông Văn Dền (tức Kim Đồng) được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Anh hùng Nguyễn Bá Ngọc

Nguyễn Bá Ngọc sinh năm 1952 tại xã Quảng Trung huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1965, khi đang học lớp 4B trường PTCS Quảng Trung, Ngọc là một học sinh chăm ngoan học giỏi và rất hay giúp đỡ bạn bè. Cũng năm đó giặc Mĩ mở rộng chiến tranh và cho máy bay đánh phá các tỉnh miền Bắc nước ta, chúng ném bom cả trường học, bệnh viện...
Sáng ngày 4 tháng 4 năm 1965 đế quốc Mĩ cho máy bay bắn phá vào xã Quảng Trung, quê hương của Nguyễn Bá Ngọc. Bố mẹ đi làm đồng, Ngọc một mình đưa các em nhỏ xuống hầm tránh bom. Trong lúc bom đạn đang gầm rú, Ngọc bỗng nghe tiếng khóc bên nhà bạn Khương. Không quản nguy hiểm Ngọc ra khỏi hầm và băng mình sang nhà Khương. Bạn Khương đã bị thương nặng, hai em của Khương đang sợ hãi gào khóc. Ngọc vội lấy thân mình che chở cho hai em và dìu các em xuống hầm. Cứu được hai em nhỏ an toàn, nhưng Ngọc bị trúng bom bi của giặc. Mặc dù đã được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng do vết thương quá nặng Nguyễn Bá Ngọc đã anh dũng hy sinh vào lúc 2 giờ sáng ngày 5-4-1965, khi ấy Ngọc mới bước sang tuổi 14.
3. Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi

Nguyễn Văn Trỗi là con thứ ba (do đó anh còn có tên là Tư Trỗi) trong một gia đình nghèo tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam, Việt Nam.
Sau Hiệp ước Genève, gia đình anh vào Sài Gòn sinh sống. Lớn lên, anh làm thợ điện ở nhà máy điện Chợ Quán và tham gia tổ chức Biệt động thành, Đại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn.
Năm 1964, anh được tập huấn cách đánh biệt động nội thành ở căn cứ Rừng Thơm, Đức Hòa (Long An).
Ngày 2 tháng 5 năm 1964, anh nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý, để ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của Chính phủ Hoa Kỳ do Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu. Nhiệm vụ này ban đầu được giao cho một đồng đội của Trỗi, nhưng anh xung phong đi thay vì vợ chồng người đồng đội đó đã có con, dù bản thân anh cũng mới cưới vợ được 10 ngày. Công việc bại lộ, anh bị bắt lúc 22 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1964.
Khu tưởng niệm Nguyễn Văn Trỗi ở gần cầu Công Lý, trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thuộc quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đưa anh ra tòa án quân sự kết án tử hình. Nhóm du kích quân chống chế độ độc tài thân Mỹ tại Venezuela sau khi nghe tin đã bắt sống trung tá Mỹ Micheal Smolen để ra điều kiện đổi mạng với Nguyễn Văn Trỗi, bởi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam có sức khích lệ, cổ vũ họ rất nhiều. Chế độ Nguyễn Khánh ở Sài Gòn ngay lập tức phải dừng lại việc xử tử biệt động Nguyễn Văn Trỗi. Hai bên đồng ý trao đổi tù binh, nhưng sau khi Micheal Smolen được thả, Mỹ và chế độ Sài Gòn đã trở mặt, đưa Nguyễn Văn Trỗi đi xử bắn bí mật ngay lập tức.
Nguyễn Văn Trỗi bị xử bắn tại sân sau nhà lao Khám Chí Hòa lúc 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài. Trước khi bị xử tử, anh đã hô lớn “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!"
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa bí mật cho chôn xác Nguyễn Văn Trỗi tại nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau 3 ngày tìm kiếm, cha đẻ và vợ anh đã tìm thấy mộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi trong bức ảnh chụp Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trước pháp trường: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của Anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước - nhất là cho các cháu thanh niên học tập!”
4. Liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm

Liệt sĩ-Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, là người con của quê hương Thừa thiên-Huế nhưng sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Cha là Bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là Dược sĩ Doãn Ngọc Trâm-nguyên là giảng viên Trường Đại học Dược khoa, Hà Hội. Đặng Thùy Trâm tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, sau đó xung phong vào chiến trường miền Nam làm nhiệm vụ của một người thầy thuốc trong thời gian chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bác sĩ Đặng Thùy Trâm công tác tại bệnh viện huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, trong khi làm nhiệm vụ tại địa bàn đã bị địch phục kích và anh dũng hy sinh vào năm 1970 khi còn rất trẻ, chỉ mới chưa đầy 28 tuổi đời với 3 năm tuổi nghề và 2 năm tuổi Đảng. Nhân dân địa phương đã an táng Chị ngay tên mãnh đất mà Chị đã hy sinh và được gia đình cải táng về nghĩa trang Liệt sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Thủ đô Hà Nội.
Trong hành trang để lại trước lúc hy sinh của Chị là 2 cuốn nhật ký đã được một cựu chiến binh Mỹ tên là Frederic Whitehurst từng tham chiến tại chiến trường huyện Đức Phổ tìm thấy và cất giữ. Do khó khăn trong việc tìm kiếm gia đình của Bác sĩ Đặng Thùy Trâm và đã tưởng như tuyệt vọng, 2 cuốn nhật ký nầy được Frederic Whitehurst trao tặng cho Viện Lưu trữ về Việt Nam tại Trường Đại học Tổng hợp Texas, Lubbock lưu giữ và bảo quản.
Sau bao nhiêu năm tìm kiếm thân thích của gia đình Chị và được sự đồng ý của gia đình, cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đã được Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản và phát hành vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng và 60 năm ngành thành lập Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Trong dịp kỷ niệm này, tại nhà thờ họ Đặng ở 120 Mai Thúc Loan, Thành phố Huế; Ts. Trần Chí Liêm-Thứ trưởng Bộ Y tế, Đc. Ngô Hòa-Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân Dân, PGs.Ts Nguyễn Dung-Giám đốc Sở Y tế Thừa thiên-Huế đã tổ chức Lễ Dâng hương tưởng niệm và phát động phong trào học tập y đức của Liệt sĩ-Bác sĩ Đặng Thùy Trâm, một thầy thuốc với phẩm chất anh hùng cách mạng của người chiến sĩ Cộng sản. Bộ Y tế đang trình Nhà nước xét tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Liệt sĩ-Bác sĩ Đặng Thùy Trâm và có kế hoạch xây dựng bệnh viện khu vực Đức Phổ-tỉnh Quảng Ngãi, nơi Bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã anh dũng hy sinh trở thành một bệnh viện kiểu mẫu của toàn quốc và mang tên Bệnh viện Đặng Thùy Trâm.
Ngoài Liệt sĩ-Anh hùng Lao động-Giáo sư-Đặng Văn Ngữ, ngành y tế Thừa thiên-Huế còn có anh hùng, liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã đi vào lịch sử. Hàng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2, ngày Thương binh-Liệt sĩ 27/7 và ngày hy sinh của các Liệt sĩ, ngành y tế sẽ tổ chức viếng thăm và dâng hương trước di ảnh tại các nhà thờ họ tộc để tưởng niệm.
5. Anh hùng La Văn Cầu - "Huyền thoại Điện Biên Phủ"

La Văn Cầu sinh năm 1932, Anh hùng quân đội (1951), dân tộc Tày, quê xã Phong Nậm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Gia nhập bộ đội từ 1948, đại tá (1982), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (1950). Trong trận Bông Lau 1949, La Văn Cầu nhảy lên xe tăng cướp súng địch diệt địch. Trong trận Đông Khê (Chiến dịch Biên giới 1950), bị thương nát tay phải, La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt đứt để khỏi vướng, rồi tiếp tục đánh bộc phá mở đường cho đơn vị xung phong. La Văn Cầu được tuyên dương là lá cờ đầu trong phong trào thi đua yêu nước thời kì Kháng chiến chống Pháp.
Anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình vốn có mối thù sâu sắc với đế quốc, phong kiến. Khi còn bé, anh chứng kiến cái chết uất ức của cha, hậu quả của những trận đòn tra tấn đánh đập dã man, kiệt sức rồi qua đời. Cuộc đời lam lũ cực khổ như đè nặng lên đôi vai nhỏ bé của anh từ thuở thiếu thời.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, được nhiều cán bộ tuyên truyền giác ngộ, anh càng hiểu rõ nguồn gốc sự cực khổ của người nghèo và người dân mất nước, nên hăng hái tham gia vào công cuộc kháng chiến ở quê hương. Với khát khao được cầm súng giết giặc giải phóng đất nước, La Văn Cầu mới 16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Lúc đó là năm 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Nhưng niềm vui và ý chí đã giúp anh vượt qua khó khăn, vươn lên rèn luyện thành một chiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, nên được anh em đồng đội rất quí mến. Anh đã tham gia chiến đấu 29 trận trong các cương vị chiến sĩ và chỉ huy.
Trong trận phục kích ở đèo Bông Lau năm 1949, anh xung phong vào tổ xung kích đột phá trận đánh. Khi nổ súng, có lệnh xung phong, anh dũng cảm xông lên, phát hiện một tên Pháp ngồi trên xe tăng anh đã bắn hạ, rồi lao lên xe cướp súng. Ngoảnh lại sau, thấy 3 tên Pháp chạy tới, anh liền dùng khẩu súng vừa cướp được, bắn chết cả 3 tên, quyết không để bọn giặc chạy thoát, anh nhảy xuống xe, tiếp tục truy lùng diệt thêm 6 tên nữa.
Trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, quân ta đánh đồn Đông Khê lần thứ nhất, anh bị đau chân vẫn kiên quyết xin đi chiến đấu. Trận đánh gặp khó khăn, đơn vị bạn bị thương vong nhiều, anh động viên anh em trong tiểu đội (hầu hết là tân binh), băng bó và cõng hết thương binh về nơi an toàn. Trên đường rút về căn cứ, địch nhảy dù phản kích, mặc dù chân đau và đuối sức, anh vẫn vác khẩu pháo 12 ly 7 thu được của địch, về tới đơn vị.
Trận đánh đồn Đông Khê lần thứ hai (1950), La Văn Cầu được phân công chỉ huy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt đầu cầu (cửa mở trận đánh). Phá được hai hàng rào thì hai đồng chí xung kích bị thương. Địch tập trung hỏa lực dữ dội vào cửa mở, phá hủy mất của ta một số bộc phá ống. anh nghĩ ngay phải dành bộc phá đánh lô cốt, nên động viên anh em trong tổ gỡ mìn của địch và dũng cảm xông lên dùng mìn phá nốt hai hàng rào cuối cùng. Song tình huống diễn ra càng phức tạp hơn, khi tiến đánh lô cốt thì anh em đã bị thương tất cả, chỉ còn lại một mình anh. Không ngần ngại, anh ôm bộc phá xông tới lô cốt đầu cầu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ “đột phá khẩu” của tổ. Nhưng khi vượt rào đến được giao thông hào thứ ba thì anh bị thương, ngất đi. Tỉnh dậy, thấy cánh tay phải của mình bị địch bắn gãy nát, nghĩ đến trọng trách chưa hoàn thành, anh quay trở lại khẩn thiết yêu cầu đồng đội chặt đứt cánh tay cho khỏi vướng víu, rồi tiếp tục xông lên đánh tan lô cốt đầu cầu, mở đường cho đơn vị xung phong diệt gọn đồn địch, kết thúc thắng lợi trận Đông Khê.
Tấm gương của La Văn Cầu đã cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công trong toàn đại đoàn và trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn, một hình thức chiến thuật mới của quân đội ta mở ra từ chiến dịch Biên Giới năm 1950.
La Văn Cầu được tặng thưởng một Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương kháng chiến hạng nhất, phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đại tá La Văn Cầu đã nghỉ hưu, trở về với đời thường, nhưng phẩm chất của người anh hùng mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ Việt Nam.
6. Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót

Chuyện về người anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai - Phan Đình Giót
Anh hùng, liệt sĩ Phan Đình Giót – Người hy sinh thân mình lấp lỗ châu mai, mở đường tiến cho đồng đội trong trận đồi Him Lam. Đây là trận đánh mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ thần thánh của dân tộc.
Hỏa lực của Pháp bắn ra xối xả từ lô cốt số 3, các chiến sĩ xung phong tiến lên đều hy sinh trước họng súng của kẻ thù. Bất ngờ, Phan Đình Giót ôm bộc phá lao về phía lô cốt với ý định cháy bỏng và dùng thân mình lấp lỗ châu mai. Người anh bị kẻ thù bắn nát. Hỏa điểm lợi hại nhất của Pháp bị dập tắt. Đồng đội anh xông lên như vũ bão…
Tuổi thơ cơ cực
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phan Đình Giót sinh năm 1922, trong một gia đình nghèo ở Hà Tĩnh. Bố mất sớm, hai anh em sống cùng mẹ trong căn nhà dột nát, cuộc sống cơ cực, thiếu trước hụt sau. Đói khổ quá, anh phải đi ở mướn cho nhà một địa chủ trong vùng.
Rồi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, anh cũng như nhiều thanh niên trong làng hăng hái đăng kí tham gia tự vệ, sống đời quân ngũ. Đến năm 1950, anh xung phong đi bộ đội chủ lực và tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc và Biện Biên Phủ.
Anh là người lính giàu tình cảm. Từ khi vào quân đội, cứ cách 2 tháng là anh gửi thư về cho mẹ và em hỏi thăm sức khỏe và báo tình hình mình đang đóng quân ở đâu. Sống trong môi trường quân đội, anh luôn tự giác gương mẫu, hết lòng yêu thương đồng đội và sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn về mình. Chính vì thế, anh được đồng đội trong quân ngũ quý mến. Có lần anh lấy máu mình viết bản tâm thư gửi đến đại đoàn để tỏ rõ chí khí hiên ngang của một chiến sĩ đã giác ngộ cách mạng.
Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh
Mùa đông năm 1953, anh nhận lệnh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Mở đầu cho chiến dịch đó là trận đánh ở đồi Him Lam.
Chiều ngày 13/3/1954, bộ đội ta đánh vào Him Lam. Đó là một cuộc chiến không cân sức cả về quân lực lẫn hỏa lực. Pháp trút bom đạn như mưa, bộ đội ta phải giành giật từng cứ điểm, từng mỏm đồi với địch.
Đại đội 58, trong đó có anh nhận nhiệm vụ dùng bộc phá mở đường. Đến gói bộc phá thứ 9, anh bị thương ở đùi. Băng bó xong, máu chưa ngừng chảy thì anh đã chạy lên ôm tiếp gói bộc phá lao đến lô cốt của giặc, anh tiếp tục bị thương ở vai, mất quá nhiều máu, anh lui lại phía sau cho y tế băng bó.
Lúc đó, ở lô cốt số 3, địch nã đạn xối xả, bộ đội ta hy sinh quá nhiều. Nhìn cảnh đó, dù đang bị thương và mất rất nhiều máu nhưng Phan Đình Giót vẫn vội ôm gói bộc phá rồi nhanh như chớp, anh lao đến vị trí lô cốt số 3 (cách đó 200m) với quyết tâm cháy bỏng là dùng thân mình lấp lỗ châu mai. Rồi người anh bị bom đạn kẻ thù bắn nát. Đồng đội anh tiến lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm.
Chiến dịch Điện Biên Phủ thành công, anh là một trong 16 anh hùng được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày nay, tên anh được đặt cho nhiều con đường và trường học ở nước ta.
“Trong trận chiến khốc liệt ở đồi Him Lam, anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót đã không tiết hy sinh thân mình vì nhiệm vụ. 2 lần bị thương, mất máu quá nhiều, sức khỏe suy yếu nhưng anh vẫn quyết xung phong lên phía trước. Rồi khi nhìn đồng đội mình hy sinh quá nhiều, anh làm điều mà không ai có thể tưởng tượng được. Đó là lấy thân mình lấp lỗ châu mai, mở đường tiến cho đồng đội.
Phải có lòng yêu nước nồng nàng và tinh thần quả cảm lớn lao người ta mới có thể làm được như thế. Tinh thần chiến đấu của anh đã giúp thế hệ trẻ hôm nay thấy được rằng cuộc chiến giành độc lập của cha ông ta quá can trường và khốc liệt. Nền độc lập hôm nay là vô giá. May mắn sinh ra ở thời bình, mỗi người chúng ta hôm nay phải cống hiến nhiều hơn nữa cho sự giàu đẹp của đất nước, để xứng đáng với những hy sinh của thế hệ cha anh đi trước” – anh Lê Văn Quyền, Super Sale Địa ốc Alibaba nhìn nhận.


