Anh Hùng, Liệt Sĩ Phan Đình Giót
Anh hùng, liệt sĩ Phan Đình Giót
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ là một mốc vàng chói lọi bằng vàng của lịch sử”. Làm nên chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu ấy là sự hy sinh anh dũng, máu xương của biết bao người con ưu tú của dân tộc. Trong cuốn sổ vàng truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, tượng đài về lòng quả cảm và tinh thần cống hiến trọn vẹn tuổi xuân cho Tổ quốc chính là Anh hùng, liệt sĩ Phan Đình Giót – người chiến sĩ dũng cảm đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai trong trận mở màn chiến dịch.
Tuổi thơ trong gian khó và chí khí cách mạng
Phan Đình Giót sinh năm 1922 tại làng Vĩnh Yên (sau là làng Tam Mỹ, nay thuộc xã Cẩm Quan), huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Anh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo bần cùng dưới chế độ thực dân phong kiến. Cơn đói hoành hành khiến người bố của anh qua đời sớm, để lại người mẹ già và hai anh em trong cảnh túng thiếu tận cùng.
Từ khi mới 13 tuổi, cậu bé Phan Đình Giót đã phải đi ở ẩn, làm thuê cho các gia đình địa chủ trong vùng. Những năm tháng đi chăn trâu, cắt cỏ, gánh nước thuê không chỉ rèn luyện cho anh một thể chất dẻo dai, nhẫn nại mà còn hun đúc trong tâm hồn trẻ thơ một nỗi oán thù sâu sắc đối với áp bức, bất công. Cuộc sống lam lũ, vất vả dường như không làm thui nhụt chí khí mà trái lại, càng khiến anh khao khát một ngày đất nước được tự do, người nghèo khổ không còn bị chèn ép.
Tháng 8 năm 1945, làn sóng Cách mạng tháng Tám tràn qua mảnh đất Hà Tĩnh. Như cây cỏ gặp ánh mặt trời, người thanh niên Phan Đình Giót lập tức hăng hái tham gia lực lượng tự vệ chiến đấu tại địa phương. Anh tích cực tham gia luyện tập quân sự, canh gác xóm làng và tuyên truyền vận động bà con xóm giềng ủng hộ chính quyền cách mạng còn non trẻ.
Bước chân người chiến sĩ trên các chiến trường gian khổ
Đến năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn phản công gay go và quyết liệt, Phan Đình Giót xung phong gia nhập bộ đội chủ lực. Anh được phân công vào Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 (Đại đoàn Chiến thắng).
Năm đầu tiên bước vào đời quân ngũ, anh nhanh chóng chứng tỏ được phẩm chất của một người chiến sĩ ưu tú. Mới chỉ có 3 tháng tuổi quân, Phan Đình Giót đã tham gia trận đánh đồn Tràng Bạch trên Đường 18. Trong trận chiến diễn ra ác liệt, khi đồng đội xung kích gặp khó khăn trước hỏa lực địch, anh đã dũng cảm bò lên đặt bộc phá tiêu diệt lô cốt địch, tạo đà cho toàn đơn vị thừa thắng xông lên.
Liên tiếp sau đó, anh tham gia hàng loạt chiến dịch lớn nhỏ:
• Chiến dịch Trung Du (1950 - 1951): Xung phong ở những vị trí khó khăn nhất, luôn nhận phần việc gian khổ về mình.
• Chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952): Bất chấp mưa đạn và bão tuyết gay gắt, anh kiên cường bám trụ trận địa.
• Chiến dịch Tây Bắc (1952): Trực tiếp giáp lá la với địch, từng hai lần bị thương nặng nhưng vẫn kiên quyết không rời trận địa, tiếp tục xin ở lại sát cánh cùng đồng đội.
Trong suốt quá trình công tác, Phan Đình Giót nổi tiếng trong đơn vị nhờ tính tình cởi mở, chan hòa, khiêm tốn và luôn hết lòng giúp đỡ đồng đội. Anh được bầu làm Tiểu đội phó bộ binh thuộc Đại đội 58, Tiểu đoàn 428. Nhờ những thành tích chiến đấu xuất sắc và phẩm chất đạo đức trong sáng, anh vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và từng 4 lần được Tiểu đoàn, Đại đoàn khen thưởng.
Mùa đông năm 1953 và cuộc hành quân lịch sử
Mùa đông năm 1953, đơn vị của Phan Đình Giót nhận lệnh vượt qua hàng trăm cây số đường rừng tiến quân lên Tây Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Cuộc hành quân dài ngày vô cùng gian khổ, phải mang vác nặng, vượt qua biết bao đèo cao, vực sâu và những cơn mưa rừng rét buốt.
Dù đôi chân sưng nát và bờ vai hằn sâu vết dây gùi, Phan Đình Giót vẫn luôn là người đi đầu cổ vũ tinh thần anh em. Anh không chỉ mang phần nặng của mình mà còn chủ động vác giúp vũ khí, đạn dược cho những đồng chí yếu hơn. Khi đơn vị dừng chân nghỉ ngơi, anh lại xông xáo đi tìm củi, nấu nước, chăm sóc từng vết thương cho đồng đội. Sự kiên trì và tấm lòng nhân ái của người tiểu đội phó đã trở thành nguồn động viên tinh thần to lớn cho cả Đại đội 58 trong suốt hành trình tiến về lòng chảo Điện Biên.
Trận Him Lam và khoảnh khắc bất tử. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, lệnh tiến công chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức bắt đầu. Mục tiêu mở màn của quân ta là trung tâm phòng ngự cứ điểm Him Lam – một kiên cố bậc nhất của tập đoàn cứ điểm Pháp.
Đúng 17 giờ 05 phút, hỏa lực pháo binh của ta dồn dập trút xuống cứ điểm Him Lam. Ngay sau loạt pháo mở đường, các chiến sĩ Đại đội 58 lao lên như vũ bão để mở cửa mở. Phan Đình Giót cùng đồng đội liên tục dùng bộc phá đánh phá các lớp rào gai.
Các chiến sĩ ta đã liên tiếp đánh đến quả bộc phá thứ tám. Đến quả thứ chín, Phan Đình Giót xung phong lao lên đánh tiếp. Một mảnh đạn địch ghim vào đùi anh, máu chảy đầm đìa. Nén chịu đau đớn dữ dội, anh không lùi lại mà tiếp tục ôm quả bộc phá thứ mười lao lên xé tạc lớp rào bùng nhùng cuối cùng, phá tan cửa mở để quân ta tiến vào.
Tuy nhiên, khi lực lượng xung kích của ta áp sát trung tâm cứ điểm thì bất ngờ bị chặn lại bởi hỏa lực khủng khiếp từ lô cốt số 3 của địch. Đây là lô cốt góc có trang bị đại liên và cối hạng nặng, khống chế toàn bộ hướng tiến công chính của Đại đội 58. Đạn địch từ lỗ châu mai tuôn ra như mưa, cày xới mặt đất, khiến nhiều chiến sĩ ta thương vong, đội hình tiến công bị ùn tắc nguy hiểm ngay trước cửa mở.
Trong thời khắc nghìn cân treo sợi tóc ấy, các cán bộ trung đội lần lượt bị thương vong. Phan Đình Giót tự cảm nhận trách nhiệm chỉ huy thuộc về mình. Dù bản thân đã bị thương tiếp vào vai và mất máu rất nhiều, anh vẫn trườn người, nhích từng centimet trên mặt đất cày xới đạn đạn để tiến sát về phía hỏa điểm địch.
Anh dùng hết sức lực còn lại nâng khẩu tiểu liên bắn mạnh vào lỗ châu mai. Hết đạn, anh ném tiếp quả lựu đạn cuối cùng vào bên trong. Tiếng nổ vang lên, hỏa điểm địch tạm ngừng trong chốc lát rồi lại tiếp tục nhả đạn điên cuồng. Đồng đội phía sau tìm cách lao lên nhưng liên tục bị đạn bắn quật ngã.
Nhìn thấy máu của đồng đội tiếp tục đổ, trong đầu người chiến sĩ 32 tuổi chỉ còn duy nhất một ý nghĩ cháy bùng: Phải dập tắt ngay hỏa điểm này bằng mọi giá!
Phan Đình Giót dồn toàn bộ tàn lực còn lại trong cơ thể, rướn người đứng dậy bên cạnh chân lô cốt. Anh hô lớn lời thề sắt đá vang vọng giữa dải rừng Him Lam:
“Quyết hy sinh... vì Đảng... vì dân!”
Ngay lập tức, anh lao cả tấm ngực thanh xuân áp chặt vào lỗ châu mai của địch.Thân hình của người anh hùng đã che kín hoàn toàn họng súng đại liên. Tiếng súng điên cuồng bên trong lô cốt bỗng chốc câm bặt. Hỏa điểm nguy hiểm nhất bị dập tắt hoàn toàn.
Chớp lấy thời cơ vàng do sự hy sinh vô giá của Phan Đình Giót tạo ra, toàn bộ quân ta từ các hướng đồng loạt đứng dậy, ào ạt xông lên như thác lũ, tiêu diệt toàn bộ quân địch bên trong, diệt gọn cứ điểm Him Lam và giành chiến thắng giòn giã trong trận mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.Anh hùng Phan Đình Giót trút hơi thở cuối cùng vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954, khi mới tròn 32 tuổi.Sự tri ân và tượng đài bất tử trong lòng dân tộcSự hy sinh quên mình của Phan Đình Giót đã trở thành một cú hích tinh thần vô cùng to lớn, truyền thêm sức mạnh chiến đấu mãnh liệt cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên khắp các mặt trận của chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ngày 31 tháng 3 năm 1955, Chủ tịch nước Dân chủ Cộng hòa Việt Nam đã truy tặng liệt sĩ Phan Đình Giót danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì.
Ngày nay, hài cốt của Anh hùng Phan Đình Giót được an táng trang trọng tại Nghĩa trang Liệt sĩ A1, thành phố Điện Biên Phủ, nằm bên cạnh những đồng đội thân yêu cùng chung chí hướng như Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Trần Can.
Những kỷ vật vô giá của anh – như chiếc bi đông đong nước cùng khẩu súng tiểu liên đã đồng hành qua những năm tháng gian khổ – hiện được trân trọng lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Quân đoàn 1 (nay là Quân đoàn 12), trở thành những hiện vật lịch sử xúc động truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ.
Tên tuổi của anh hùng Phan Đình Giót đã được khắc sâu vào lịch sử dân tộc. Tên của anh được trân trọng đặt cho nhiều trường học, công viên và những con đường lớn tại các thành phố trên khắp cả nước như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Pleiku, Kon Tum và ngay tại thành phố Điện Biên Phủ.
Hành động lấy thân mình lấp lỗ châu mai của Phan Đình Giót không chỉ là biểu tượng cao đẹp nhất của lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mà còn là bài học bất tử về tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc cho muôn đời sau.



