Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG LIỆT SĨ QUÀNG VĂN LIẾN

Trong hành trình tìm hiểu lịch sử và truyền thống cách mạng của Đồn Biên phòng Cửa khẩu Huổi Puốc/Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên, chi đoàn Đồn Biên phòng Cửa khẩu Huổi Puốc đã có dịp nghiên cứu các tư liệu tại phòng Hồ Chí Minh của đơn vị. Trong đó, câu chuyện về người chiến sĩ cách mạng kiên trung Quàng Văn Liến, đã để lại nhiều xúc động và niềm tự hào sâu sắc

Điện Biên05/08/2026Đoàn Thanh niên Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh (Đoàn Thanh niên Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ANH HÙNG LIỆT SĨ QUÀNG VĂN LIẾN

Trong hành trình tìm hiểu lịch sử và truyền thống cách mạng của Đồn Biên phòng Cửa khẩu Huổi Puốc/Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên, chi đoàn Đồn Biên phòng Cửa khẩu Huổi Puốc đã có dịp nghiên cứu các tư liệu tại phòng Hồ Chí Minh của đơn vị. Trong đó, câu chuyện về người chiến sĩ cách mạng kiên trung Quàng Văn Liến, đã để lại nhiều xúc động và niềm tự hào sâu sắc.

Đồn Biên phòng Cửa khẩu Huổi Puốc được thành lập ngay sau khi có Chỉ thị số 27/A2, ngày 7-2-1963 của Công an vũ trang khu Tây Bắc về thành lập Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lai Châu. Tiền thân của Đồn Biên phòng Cửa khẩu Huổi Puốc là Đồn Mường Lói (Đồn 17 Công an nhân dân vũ trang) được thành lập dựa trên cơ sở là đại đội 155, tiểu đoàn 959, trung đoàn 159 Quân khu Tây Bắc.

Ngày đầu thành lập, đơn vị có 50 cán bộ, chiến sĩ; tổ chức Đảng có 1 chi bộ (8 đảng viên); Ban Chỉ huy có 4 đồng chí; Ban Chấp hành chi đoàn có 12 đoàn viên; các tổ công tác gồm: Trinh sát, cơ sở, cơ động, trạm kiểm soát (quân số hầu hết là hạ sĩ quan, chiến sĩ). Đồn Biên phòng Cửa khẩu Huổi Puốc (Đồn Đồn Mường Lói) đứng chân tại xã Mường Lói, huyện Điện Biên (trước kia), đảm nhiệm đoạn biên giới từ mốc C3 đến mốc C6, gồm xã Mường Nhà và Mường Lói. Ngày đầu thành lập, đồng chí thượng úy Hoàng Chính làm Đồn trưởng, đồng chí trung úy Nguyễn Hợi làm Chính trị viên. Ngay từ khi thành lập, tuy trang bị còn thô sơ, thiếu thốn mọi mặt, địa bàn hoạt động rộng, xa xôi hẻo lánh, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt... nhưng cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã đoàn kết một lòng, gắn bó máu thịt với cấp ủy, chính quyền và đồng bào các dân tộc nơi biên giới, cùng nhau chung sức đồng lòng, vượt qua khó khăn thử thách, nhanh chóng triển khai lực lượng xây đồn, lập trạm; tuyên truyền, vận động nhân dân lập bản, xây dựng cơ sở chính trị, lập nên phòng tuyến nhân dân, chiến đấu tiễu phỉ, chống gián điệp, biệt kích, bảo vệ biên giới, bảo vệ cơ sở Đảng, chính quyền và nhân dân. Đánh địch giành thắng lợi các chuyên án K28, K23 (từ năm 1962-1967) trong thực hiện Chỉ thị 186/CT-TN, ngày 17-2-1960 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngăn chặn và dập tắt âm mưu và thủ đoạn hoạt động gây phỉ và gây bạo loạn vũ trang của bọn phản động. Phối hợp với các lực lượng trên địa bàn tổ chức chiến đấu tiêu diệt và bắt sống 23 tên phỉ, phá vỡ nhiều cơ sở của địch, đập tan âm mưu xây dựng “khu vực an toàn và tiếp đón” (từ năm 1962-1967). Tiêu diệt nhóm phỉ tại Pha Lay do tên Nông Quốc Hải cầm đầu, tiêu diệt 4 tên, bắt sống 4 tên, thu toàn bộ vũ khí (Năm 1965). Tiêu diệt toán biệt kích Mỹ - ngụy mang biệt danh “Hổ rừng 2” gồm 9 tên (bắt sống 2 tên, tiêu diệt 7 tên), thu 9 súng cacbin, 1 máy VTĐ, 2 máy radio, 1 máy HTT-2A và nhiều quân trang, quân dụng khác (năm 1967). Phối hợp với một đơn vị bộ đội Pa thét Lào đánh đồn Huổi Le, diệt 30 tên phỉ, gọi hàng 50 tên (năm 1964)…. Trong những chiến công đó không thể không nhắc đến những đóng góp to lớn của anh hùng liệt sĩ Quàng Văn Liến đối với sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ tổ quốc, đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc. Đồng chí đã không tiếc tuổi trẻ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và mang lại cuộc sống hòa bình cho các thế hệ hôm nay. Sự hy sinh cao cả ấy là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam.

Anh hùng liệt Quàng Văn Liến sinh năm 1938 trong một gia đình nông dân nghèo tại bản Pá Ngam, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu (cũ), nay là bản Pá Ngam, xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1961 ông nhập ngũ được biên chế về Đồn 17 Công an nhân nhân vũ trang thuộc Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lai Châu.

Đồng chí Quàng Văn Liến nhập ngũ trong bối cảnh đất nước nói chung, đồng bào các dân tộc Tây Bắc và đồng bào các dân tộc trên địa bàn đơn vị quản lý nói riêng ở thực trạng sau 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ áp bức, bóc lột, nhân dân ăn  không đủ no, mặc không đủ ấm, sức khỏe người dân sút kém. Hàng năm những dịch bệnh có tính chất rộng rãi trong quần chúng đã hoành hành, tàn phá sức khỏe của nhân dân ta ghê gớm: 90% dân miền núi bị bệnh sốt rét, bên cạnh đó còn có những dịch cúm, dịch bại liệt... do siêu vi trùng, rất khó phòng và điều trị, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động, đến đời sống của đồng bào các dân tộc. Cán bộ chúng ta trải qua hàng chục năm kháng chiến gian khổ, sức khỏe cũng sút kém nhiều, bị nhiều bệnh kinh niên như sốt rét, dạ dày, kiết lỵ, thần kinh... ảnh hưởng rất lớn tới xây dựng, lao động, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta.

Về phía địch, tại miền nam Việt Nam, bọn Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, thực hiện chính sách “Tố cộng, diệt cộng”, đánh phá điên cuồng, giết hại, giam cầm hơn nửa triệu cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước, đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi hành hiệp định Giơnevơ và thực hiện tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước cùng chính quyền dân sinh, dân chủ. Những chính sách tàn độc đó của Mỹ - Diệm đã tác động vô cùng nặng nề tới cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền bắc nước ta.

Trong giai đoạn lịch sử cách mạng này, dân tộc ta đang phải chiến đấu chống lại kẻ thù mạnh nhất, nguy hiểm nhất thời đại là đế quốc Mỹ, bè lũ bán nước và chư hầu, ngay từ khi nhập ngũ, đồng chí Quàng Văn Liến đã nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng với tập thể đơn vị kịp thời phát hiện âm mưu phá hoại của địch, kiên cường, dũng cảm chiến đấu, kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trung tâm, bảo vệ và xây dựng tuyến biên giới được phân công phụ trách an ninh, an toàn, góp phần cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc trên địa bàn thực hiện nhiệm vụ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn này bọn Mỹ - ngụy tăng cường hoạt động phá hoại miền Bắc bằng nhiều hình thức, liên kết với bọn phản động trong phái hữu Lào thực hiện mưu đồ đánh vào cạnh sườn phía Tây của Việt Nam; chúng đẩy mạnh các hoạt động gây bạo loạn vũ trang, tổ chức lôi kéo người Mông xưng đón vua, nổi loạn cướp của giết người, đốt làng bản… gây tình trạng căng thẳng dọc biên giới. Mỹ - ngụy thường xuyên tung các toán gián điệp, biệt kích qua địa bàn Tây Bắc, nhằm móc nối với số phản động, ngụy quân chúng cài lại sau 1954, tiếp tục lôi kéo, tập hợp lực lượng, gây bạo loạn, khủng bố, phá hoại các công trình trọng điểm về chính trị, kinh tế, quân sự, ám sát cán bộ; chúng xâm nhập bằng các hình thức nhảy dù từ máy bay hoặc xâm nhập qua đường mòn trên biên giới từ phía Lào vào địa bàn, nhằm điều tra thu thập tình hình, móc nối, cài cắm, xây dựng cơ sở ngầm và cấu kết với bọn phản động lợi dụng tôn giáo, tổ chức phản động trong đồng bào dân tộc hoạt động phá hoại địa bàn, khủng bố, gây mất an ninh trật tự làm suy yếu hậu phương lớn miền Bắc; thực hiện chia cắt lâu dài đất nước ta.

Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới và các mục tiêu trọng yếu của Công an nhân dân vũ trang Tây Bắc nói chung, đơn vị nói riêng trong giai đoạn này là hết sức nặng nề, khó khăn. Trước tình hình trên, đồng chí đã cùng với cán bộ, chiến sỹ đơn vị tiến hành dựng đồn, lập trạm ổn định nơi ăn, ở, sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ yên tâm ra sức công tác, thường xuyên bám sát địa bàn, bám sát nhân dân cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, kiên trì bền bỉ tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hướng dẫn nhân dân sản xuất, xây dựng đời sống đi vào ổn định. Cùng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, lăn lộn quên mình vì cuộc sống của nhân dân, vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, tiếp tục phát huy tinh thần chiến sĩ Điện Biên “Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân”, hết lòng vì hạnh phúc của nhân dân.

Trên mặt trận đấu tranh chống gián điệp, biệt kích của Mỹ - ngụy bảo vệ an ninh miền Bắc từ năm 1959-1964, với phương châm “Giữ dưới đất là chính, giữ bên trong là chính; làm trong sạch địa bàn, chuẩn bị sẵn lực lượng, thế trận; địch vào là đánh, bắt gọn để tiếp tục mở rộng chuyên án” và “dùng địch để đánh địch”, Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ huy đồn 17 Công an vũ trang, đồng chí đã cùng với đơn vị chủ động đón bắt nhiều toán gián điệp, biệt kích cùng với số lượng lớn hàng tiếp tế của địch thả dù xuống, thu nhiều vũ khí, phương tiện và trang bị, bắt, khai thác, sử dụng đánh lại địch, đấu tranh hiệu quả, làm thất bại âm mưu, hoạt động của địch tung gián điệp, biệt kích vào phá hoại địa bàn. Trong chiến đấu chống địch tiến công, tập kích đường không, với tinh thần “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đồng chí Quàng văn Liến cùng với đơn vị đã tích cực chủ động hiệp đồng, phối hợp với các lực lượng chiến đấu tại chỗ, vừa chiến đấu đánh trả máy bay địch, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu trọng yếu được giao.

Thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào, với tư tưởng “Giúp bạn là tự giúp mình”. Từ tháng 6-1959, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang ra Chỉ thị số 52-CT và Mệnh lệnh số 12-TM cho các tỉnh có chung đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quán triệt nhiệm vụ bảo vệ biên giới an toàn trong mọi tình huống và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào. Chỉ thị 52-CT nêu rõ “Cách mạng Lào quan hệ khăng khít với cách mạng Việt Nam. Trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an vũ trang là phải nâng cao tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần giúp bạn không điều kiện”.

Tháng 6-1964, thực hiện Chỉ thị của Tỉnh ủy Lai Châu về tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, đẩy mạnh công tác bảo vệ biên giới giữa hai tỉnh Lai Châu - Phong Sa Ly, Đồn 17 công an nhân dân vũ trang được cấp trên giao nhiệm vụ phối hợp với lực lượng của tiểu khu cử cán bộ, chiến sĩ làm công tác cơ sở, quần chúng giúp bạn tại các xã dọc biên giới Việt - Lào từ Hua Mức, Nà Lầm xuống Sốp Nạo, Nậm Ngà. Trạm biên phòng Mường Lói đã cử một bộ phận sang Mường Hợp, huyện Bun Thoong, tỉnh Luông Pha Băng. Kết quả, đồng chí Quàng Văn Liến đã giáo dục, vận động nhân dân chấp hành tốt các đường lối, chủ trương, chính sách của bạn; bồi dưỡng, giúp đỡ cho cán bộ địa phương về trình độ công tác; xây dựng lực lượng dân quân du kích, xây dựng cơ sở, phát hiện nắm tình hình đối tượng, giúp nhân dân yên tâm sản xuất.

Mười năm công tác trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang thì 10 năm đồng chí hoạt động ở vùng cao biên giới, chủ yếu là vùng ngoại biên, chiến đấu, công tác trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, đồng chí đã luôn hết lòng vì nhân dân mà hy sinh, vì nhân dân mà phục vụ . Bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở chính trị vùng ngoại biên, vận động nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nâng cao đời sống, xây dựng phòng tuyến nhân dân vững chắc, giữ vững an ninh vùng biên giới. Năm 1968, đồng chí cùng tổ công tác kiên trì, thuyết phục, vận động  được 30 hộ gia đình ở vùng cao ngoại biên xuống thấp làm ruộng nước, bước đầu xóa bỏ được nạn đói lưu niên từ trước để lại. Đẩy mạnh phong trào chống Mỹ cứu nước, giảm bớt các phong tục tập quán lạc hậu, xây dựng được đời sống mới "yên vui, lành mạnh" cho nhân dân các bộ tộc Lào khu vực giáp biên. Đồng chí đã thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng, của mặt trận Lào yêu nước. Trong công tác tiễu phỉ, trừ gian đã kiên trì vận động nhân dân kêu gọi được 03 tên phỉ, biệt kích ra hàng, thu được nhiều vũ khí và tài liệu quan trọng. Tháng 8/1968, sau ba ngày truy lùng bọn biệt kích, khi gặp địch, đồng chí đã dũng cảm xung phong bắt sống 01 tên, qua khai thác ta đã tiếp tục truy lùng và bức hàng 06 tên khác. Với những thành tích trên năm 1970 đồng chí đã vinh dự được Chính phủ tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba và được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Được phong quân hàm Thượng sĩ, giữ chức vụ Đội phó đội công tác cơ sở ngoại biên, và được kết nạp đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng chí Quàng Văn Liến qua đời năm 1971, hiện tại Hài cốt đã đưa về Nghĩa trang Tông Khao. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng sinh động cho tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và ý chí kiên cường của những người con dân tộc thiểu số.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn