Anh hùng Liệt sĩ Trần Cừ
Anh hùng Liệt sĩ Trần Cừ (1920-16/8/1950), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Truy tặng 1955), Khi hy sinh anh là đảng viên, đại đội trưởng bộ binh đại đội 336, tiểu đoàn 174, trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Anh hùng Liệt sĩ Trần Cừ (1920-16/8/1950), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Truy tặng 1955), Khi hy sinh anh là đảng viên, đại đội trưởng bộ binh đại đội 336, tiểu đoàn 174, trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến công hạng Nhất.
Anh quê ở Khoái Thọ, Đức Bác, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 10 năm 1950, Anh chiến đấu trên chiến trường Việt Bắc, rèn luyện và trưởng thành từ chiến sĩ lên đại đội trưởng và đã từng tham gia hàng chục trận chiến đấu, trận nào anh cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Lúc đó Quốc Dân Đảng phản động cấu kết với quân Nhật kéo đến Vĩnh Yên, Việt Trì và một số nơi khác với âm mưu ngóc đầu dậy. Trần Cừ dẫn đầu một tiểu đội tham gia trận đánh giáp lá cà với địch và chính Anh đã đâm chết một tên Nhật và thu một khẩu súng. Tại Cầu Oai (Vĩnh Yên), vào đầu năm 1946 đã diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt chống bọn Quốc Dân Đảng phản động. Trần Cừ đã chỉ huy đơn vị dùng súng tiểu liên tiêu diệt hai tiểu đội địch, giữ vững trận địa, buộc chúng phải rút chạy về thị xã Vĩnh Yên.
Thu đông năm 1947, đơn vị Anh được giao nhiệm vụ tham gia chiến dịch Việt Bắc. Trần Cừ cùng đơn vị chuẩn bị trận địa trên địa bàn xã Sơn Đông, bên bờ sông Lô. Được chiến đấu ngay trên mảnh đất quê hương, Trần Cừ hạ quyết tâm phải bắt kẻ thù phải trả nợ máu.
Cuối tháng 12 năm 1947, dọc theo sông Lô một cánh quân của địch từ Việt Bắc rút về, tràn vào thôn Phú Hậu càn phá. Trung đội của Trần Cừ đã cùng bộ đội địa phương của huyện Lập Thạch và du kích xã phối hợp chiến đấu. Bọn địch cậy thế mạnh, với 4 máy bay khu trục và hai ca nô yểm hộ, chúng hung hăng ra sức cướp phá. Bộ đội và dân quân du kích đã bám sát từng bờ tre, ngõ xóm nổ súng đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, buộc chúng phải rút về căn cứ. Trận đánh thắng này có tiếng vang lớn được liên khu và đã được lãnh đạo tỉnh gửi thư khen ngợi động viên cán bộ, chiến sỹ. Với Trần Cừ, trận chiến đấu này là một thử thách ban đầu, thể hiện sự trưởng thành của Anh. Sau gần ba năm chiến đấu dũng cảm, được quân đội bồi dưỡng, giáo dục Trần Cừ, được vinh dự kết nạp vào Đảng năm 1948. Khi chuyển sang trung đoàn 209 Anh cùng đồng đội lập được nhiều chiến công ở suối Rút (Hoà Bình tháng 11 năm 1949), Xuân Đại, đầu năm 1950.
Trong chiến dịch Biên giới cách đánh không phải là cách đánh lối du kích, chống càn, do vậy, người chỉ huy trực tiếp, ngoài mưu trí và dũng cảm ra còn phải có sự hiểu biết và trình độ chỉ huy hiệp đồng tác chiến, trình độ sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự mới, Anh đã được đơn vị cử sang Trung Quốc học. Tốt nghiệp khoá học, Anh trở về vào đúng lúc chiến dịch giải phóng biên giới mở màn.
Khi trở về đơn vị, ngay trong đêm đầu tiên, Trần Cừ không sao ngủ được bởi chiến dịch biên giới đã bắt đầu. Anh nghĩ, ngày mai, ở mặt trận Đông Khê, những trận chiến đấu sẽ diễn ra quyết liệt, trong đó, có đại đội 336 do chính Anh là chỉ huy. Trước đó khoảng một tháng, cùng với các đơn vị bạn, cũng tham gia chiến đấu, được học tập rất kỹ về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến dịch. Đơn vị của Anh được bổ sung thêm quân số, tăng cường hậu cần và khẩn trương ôn luyện kỹ, chiến thuật. Cả đại đội tràn đầy phấn khởi, tin tưởng và báo cáo lên cấp trên lời hứa quyết tâm đánh thắng.
Những gì học được ở nước bạn, Anh ứng dụng ngay vào trận đánh Đồn Đông Khê là một cứ điểm rất kiên cố và có tầm quan trọng của địch trên tuyến biên giới Cao Bằng – Lạng Sơn và nước bạn Trung Quốc. Đánh thắng Đông Khê, sẽ làm cho tuyến phòng thủ của địch bị chia cắt, tạo cơ hội cho bộ đội ta tiêu diệt địch. 18h ngày 16 tháng 8 năm 1950, đạn pháo của ta đồng loạt dội vào cứ điểm Đông Khê mở màn cho chiến dịch. Các chiến sỹ bộ binh dũng mãnh xông lên dùng bộc phá mở cửa, lần lượt đánh chiếm các vị trí vòng ngoài và phát triển vào khu trung tâm. Trần Cừ bình tĩnh chỉ huy đại đội, dùng nhiều cách đánh khác nhau, tiêu diệt từng vị trí của địch và hướng dẫn kịp thời pháo binh chi viện. Địch phản công mãnh liệt từ các hoả điểm, gây cho ta một số thương vong. Trần Cừ xông xáo đến từng ụ chiến đấu, động viên chiến sỹ giữ vững tinh thần, kiên quyết bám trận địa, hiệp đồng tác chiến với đơn vị bạn. Nhưng lúc này trời gần sáng, mục tiêu chủ yếu của trận đánh chưa giải quyết được, theo lệnh của cấp trên, Trần Cừ cử một lực lượng nhỏ cùng mình ở lại kiềm chế hoả lực địch rồi ra lệnh cho đơn vị rút ra ngoài, tổ chức cho đại đội rút kinh nghiệm, chấn chỉnh các tiểu đội và xây dựng cho anh em một quyết tâm lớn để trận đánh thứ hai đạt kết quả hơn.
Đến 17 tháng 9 bắt đầu trận tiến công lần thứ hai; Trong trận này Anh làm đại đội trưởng, đại đội 336 là lực lượng chủ công của trung đoàn, Anh đã chỉ huy đơn vị đánh thẳng vào hầm chỉ huy của địch. Hoả lực bắn dữ dội, hòng chặn đứng các mũi tiến công của ta. Trần Cừ bình tĩnh chỉ huy đại đội vượt qua làn mưa đạn, chiếm khu vực Kỳ Sấu rồi đánh toả lên khu nhà thương. Địch rút xuống hầm cố thủ và ném lựu đạn như mưa ra ngoài. Dưới sự chi viện của hoả lực, bộ đội ta khẩn trương vận động áp sát vào lô cốt địch, dùng bộc phá diệt địch. Lúc xông lên, Trần Cừ bị thương nặng vào chân.
Trời sắp sáng, chiến sỹ ta xung phong mấy lần vẫn chưa diệt được đồn địch. Trong đồn địch còn khoảng 100 tên, Anh cầm lựu đạn hô anh em cùng ném vào lỗ châu mai. Khói toả mù mịt, lợi dụng thời cơ tốt, Trần Cừ hô lớn: “Hồ Chủ tịch muôn năm, Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm”, rồi vùng lên ném quả thủ pháo cuối cùng vào lỗ châu mai và dùng cả thân mình bịt kín lỗ châu mai, hoả điểm của địch bị tiêu diệt. Chiến sỹ ta ào lên, dùng bộc phá đánh sập lô cốt cố thủ của địch, trận Đông Khê thắng lợi. Noi gương đại đội trưởng Trần cừ, các chiến sỹ đại đội 336 đã dồn ý chí quyết tâm vào những trận chiến đấu tiêu diệt địch trên đường số 4, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của chiến dịch biên giới.
TIN BÀI LIÊN QUAN
Tìm kiếm
Tìm kiếm
Đặc san tri ân
Đặc san tri ân – Số 3 năm 2023
Đặc san tri ân – số 4 năm 2024
Đặc san tri ân – số 5 năm 2024
Đặc san tri ân – số 1 năm 2025
Đặc san tri ân – số 7 2025
Đặc san tri ân – số 8 2026
LIÊN KẾT WEBSITE



BÀI ĐỌC NHIỀU
1
BẠN ĐỌC CHÚC MỪNG NĂM MỚI
02/02/2024
2
Kỷ niệm trên hành trình giúp các gia đình tìm lại niềm vui
24/02/2024
3
Nghĩa trang liệt sĩ đồi A1
01/11/2022
4
Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9
01/11/2022
5
Nghĩa trang liệt sĩ Quốc Tế Anh Sơn
01/11/2022
THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ
TIN HOẠT ĐỘNG HỘI
THÔNG TIN LIỆT SĨ
NHỮNG KỶ NIỆM CHIẾN TRANH
NHỊP CẦU BẠN ĐỌC
VĂN HÓA - XÃ HỘI
VIDEOS
TRANG CHỦ NHỮNG KỈ NIỆM CHIẾN TRANHKỈ NIỆM VỀ LIỆT SĨ Mẹ vẫn chờ các con trở về
KỈ NIỆM VỀ LIỆT SĨ
Mẹ vẫn chờ các con trở về
Viết bởi admin 08/01/2019
Mẹ vẫn chờ các con trở về
Ngọc Hùng
Đã hơn 100 tuổi, mẹ như ngọn đèn leo lét trước gió nhưng chiều nào cũng gắng gượng ra ngồi tựa cửa ngóng hai người con trai trở về. Các anh đi không một lần trở lại, các anh nằm nơi đâu mẹ cũng không hay biết. Tâm niệm trước lúc mất của mẹ là được thắp lên nấm mộ của các con một nén hương thơm, nhưng tâm niệm ấy đang khó thực hiện bởi vẫn còn những người chưa hết lòng vì gia đình liệt sĩ.
Bàn thờ và di ảnh của hai liệt sĩ Hoàng Văn Vinh và Hoàng Văn Hiến
Mẹ Đặng Thị Hài ở xã Hưng Đông, TP Vinh năm nay đã 102 tuổi. Mẹ đã yếu lắm rồi, nhưng khi được tin tôi đến để tìm hiểu về những người con của mẹ đã ngã xuống vì sự bình yên của Tổ quốc, mẹ gắng gượng dậy tiếp chuyện tôi. Nói về các anh, mẹ khóc, đôi mắt nhăn nheo, mờ đục, nước mắt mẹ đã cạn vì thương nhớ những người con.
Chồng mất sớm, mẹ tần tảo rau cháo nuôi những người con khôn lớn. Lần lượt các anh đều nhập ngũ, các chị tham gia thanh niên xung phong. Năm 1965, khi đang là học sinh cấp 3, người con thứ Hoàng Văn Hiến tình nguyện lên đường nhập ngũ, một năm sau, người con cả Hoàng Văn Vinh cũng từ biệt mẹ ra chiến trường. Tiếp đó là con trai út Hoàng Văn Công cũng lên đường tham gia tại chiến trường Campuchia.
Mẹ Hài vẫn ra ngồi tựa cửa ngóng con về
Hai cô con gái Hoàng Thị Xuân, Hoàng Thị Chiến, con dâu Trần Thị Trinh cũng tham gia thanh niên xung phong, phục vụ các đội pháo cao xạ bảo vệ thành phố Vinh, cầu Bến Thủy. Nhà mẹ cũng trở thành nơi ăn ở, cất giữ lương thực, súng đạn cho bộ đội, mẹ cũng tham gia tải thương, tải đạn, chăm sóc thương binh, phục vụ chiến đấu. Các anh đi mẹ đều không cản, trước khi lên đường mẹ đều dặn dò: “Nước nhà chưa yên thì gia đình cũng khó mà yên ấm, các con đi giữ gìn sức khỏe để về với mẹ”. Thế nhưng, khi từ biệt, mẹ không ngờ đó là lần cuối được gặp các con.
Anh cả Hoàng Văn Vinh còn kịp gửi về cho mẹ vài ba lá thư, người con thứ Hoàng Văn Hiến hy sinh ngay trên đường hành quân vào Nam sau dăm tháng nhập ngũ. Anh cả Hoàng Văn Vinh hy sinh năm 1969 tại mặt trận phía Nam, chỉ có người con út Hoàng Văn Công trở về với thương tật 81%. Tuy các anh hy sinh trên chiến trường nhưng mẹ đều không hay biết, chiến tranh tàn khốc nên mãi đến khi hòa bình lập lại, mẹ mới được tin hai con của mình hy sinh qua tin của đồng đội cũ. Những ngày trước đó, nhất là khi đất nước đã thống nhất, ngày nào mẹ cũng ngóng hai anh trở về, mỗi khi có thông tin chiến sĩ trở về mẹ lại thêm nung nấu hy vọng. Đến nay, phần mộ của hai anh vẫn chưa được tìm thấy, mẹ vẫn chưa thể yên lòng nhắm mắt.
Tháng 10/2013, Trung tâm trợ giúp TLPL&TGPL cho gia đình liệt sỹ (Marin) đã phát hiện nhóm 25 phần mộ liệt sĩ thuộc Trung đoàn 29 tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9, tỉnh Quảng Trị. Dựa trên những thông tin có được tại phần mộ cũng như khớp nối thông tin của Bộ Tư lệnh Quân khu IV, Trung tâm Marin đã dần lần ra tên tuổi, quê quán của 25 liệt sĩ này, trong đó có Hoàng Văn Hiến. Các liệt sĩ đều có trích lục hồ sơ quân nhân hy sinh và được chôn cất có số mộ tại Lào do Quân khu 4 xác nhận.
25 liệt sĩ tại Nghĩa trang đường 9, tỉnh Quảng Trị đều có tên (có sai lệch ít về họ và tên), đơn vị là D4 và D6 như trích lục quân nhân của Quân khu 4. Hài cốt của các liệt sĩ do đội quy tập của Quảng Trị cất bốc và bàn giao cho Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Trị. Những thông tin đã được khớp nối và họ tên, quê quán của các liệt sĩ đã được tìm ra. Tuy nhiên, Sở LĐ-TB&XH tỉnh Quảng Trị và Cục Người có công vẫn chưa cho phép gia đình đưa những phần mộ này về quê. Khi nghe tin trung tâm Marin thông báo, mẹ Hài vui lắm, mẹ muốn vào thăm con nhưng ngặt nỗi sức khỏe không cho phép, gia đình đang làm thủ tục để đưa liệt sĩ Hiến về nhưng các cơ quan chức năng chưa cho phép.
Hiện nay, mẹ Hài vẫn đang chịu thiệt thòi khi chưa được công nhận là mẹ Việt Nam Anh hùng. Theo pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký ngày 20/10/2012 thì mẹ Hài có đủ điều kiện khi có từ hai con trở lên là liệt sĩ. Gia đình đã làm đơn và trình hồ sơ lên xã Hưng Đông, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được bất kỳ thông tin phản hồi nào. Mẹ cũng chưa nhận được chế độ gì ngoài tiền tuất hàng tháng của hai anh. Nhà mẹ đã cũ, các con có xin hỗ trợ để sửa chữa nhưng đều không được.
Cứ mỗi khi chiều về, bất kể ngày mưa, ngày nắng, mẹ Hài vẫn ra ngồi tựa cửa nhìn ra cổng ngóng các anh về. Với mẹ, còn đó những nỗi buồn, buồn vì không biết các con đang an nghỉ nơi đâu, buồn vì chưa được thắp nén hương cho các con dù sức cùng lực kiệt. Nỗi buồn của mẹ là trách nhiệm của mỗi chúng ta, là nỗi hổ thẹn với những liệt sĩ đã nằm xuống.



