ANH HÙNG LIỆT SĨ TRẦN NGỌC ĐU

Những năm cuối thập niên 60, khi cuộc kháng chiến còn đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, gia đình ông Trần Quý Đảng ở quê nghèo chỉ có một mái nhà tranh đơn sơ, cha mẹ lam lũ quanh năm. Anh trai ông – Trần Ngọc Đu, là người con thứ hai trong nhà, mới 19 tuổi đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lên đường nhập ngũ. Lúc ấy, ông Đảng chỉ mới 8 tuổi, còn quá nhỏ để hiểu hết ý nghĩa của hai chữ “chiến tranh” – nhưng ông vẫn nhớ rõ hình ảnh anh trai mình khoác ba lô, bước đi mà chẳng ngoái lại, sợ nhìn em nhỏ mà mềm lòng.
Gia đình nghèo khó đến mức cha mẹ không thể vào thăm con nơi chiến trường. Ông Đu đóng quân ở khu vực Hổ (An Hải), rồi được đưa lên Yên Tử huấn luyện trước khi vào Nam chiến đấu. Chỉ trong thời gian rất ngắn, đơn vị ông nhận lệnh hành quân gấp vào mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng.
Khi vào đến chiến trường miền Nam, đơn vị của ông Đu tham gia một trận phục kích đánh vào đồn Mỹ trên một ngọn đồi ở Quảng Nam – Đà Nẵng. Ban ngày trinh sát đã nắm tình hình, đêm đến bộ đội ém quân áp sát. Nhưng khi lọt vào trong đồn thì không thấy lính địch – đơn vị nghi ngờ bị lừa, lập tức rút khỏi vị trí.
Giữa lúc rút quân hỗn loạn, đơn vị chạy qua một vườn gò. Tại đây, một người lính lớn tuổi giao cho ông Đu khẩu B40 và bảo: “Tao đi vệ sinh một tí, mày giữ hộ súng”. Ông Đu – một chàng trai thật thà, ngoan ngoãn đã nhận lấy mà không hề biết đó là giây phút cuối cùng của đời mình. Chỉ ít phút sau, địch bất ngờ nổ súng. Người lính lớn tuổi kia và ông Trần Ngọc Đu đều trúng đạn, hy sinh tại chỗ. Ông mất chỉ sau vài tháng nhập ngũ, khi tuổi đời mới 19 – đúng tuổi đẹp nhất của một chàng trai.
Ngày nghe tin ông hy sinh, ông Đảng – lúc ấy chỉ là một đứa trẻ 8 tuổi – đã chạy khắp làng để báo cho cha mẹ. Ông vừa chạy vừa khóc, chân run đến mức không đi nổi. Nhưng vì nghèo khó và chiến tranh khốc liệt, gia đình không thể vào Nam để tìm hài cốt anh. Hài cốt ông Đu nằm lại chiến trường suốt 30 năm, trong sự mong mỏi của gia đình. Mãi đến năm 1999, khi cha mẹ đã mất, ông Đảng mới đủ điều kiện để vào Nam tìm phần mộ anh trai.
Cuộc tìm kiếm kéo dài nhiều ngày, ông phải đi qua sông, qua đò, lần theo từng quả đồi, từng khu nghĩa trang bán quân sự ở Quảng Nam – Đà Nẵng. Khi tưởng như vô vọng, ông bỗng ngồi sụp xuống bên vệ đường mà bật khóc – như có một sự dẫn dắt vô hình.
Người dân địa phương nhìn thấy ông khóc liền chỉ cho ông con đường dẫn lên một quả đồi – nơi có một nghĩa trang liệt sĩ. Tại đó, ông Đảng thắp hương cho tất cả các mộ vô danh, rồi nhờ trực giác và sự giúp đỡ của đồng đội cũ, ông cuối cùng đã tìm được phần mộ của ông Trần Ngọc Đu.
Khi cả đoàn 6 người vào quán ăn sau khi tìm được mộ, chủ quán mang ra 7 cái bát, 7 cái cốc. Ông Đảng thắc mắc, nhưng chủ quán quả quyết:
- Tôi vừa thấy bảy người vào cơ mà.
Mọi người nhìn nhau – ai cũng cảm thấy rùng mình nhưng ấm áp. Có lẽ ông Đu đã theo cùng mọi người, để trở về với gia đình sau 30 năm xa cách.
Sau nhiều thủ tục, ông Đảng thuê xe chở hài cốt anh trai ra Bắc. Trên đường về, xe gặp nhiều sự cố, nhưng lần nào cũng như có ai đó che chở để vượt qua an toàn.
Về đến quê, gia đình và hàng xóm đứng đợi, ai nấy đều bật khóc. Anh hùng Trần Ngọc Đu được an táng gần mộ cha mẹ – trở về trong vòng tay quê hương sau ba thập kỷ nằm lại chiến trường.
Anh hùng liệt sĩ Trần Ngọc Đu đã ngã xuống khi tuổi đời còn quá trẻ – tuổi 19. Sự hy sinh của ông là biểu tượng cho một thế hệ thanh niên Việt Nam đã sống trọn vẹn với lý tưởng, dấn thân không do dự để bảo vệ Tổ quốc.
Câu chuyện được chính em trai anh – ông Trần Quý Đảng – kể lại bằng tất cả nỗi đau, sự tự hào và tình yêu máu thịt. Đó không chỉ là một câu chuyện hoa lửa, mà còn là một bản anh hùng ca của tình gia đình, lòng trung hiếu và sự kiên cường của người lính Việt Nam.



