ANH HÙNG LIỆT SỸ: NGUYỄN TRỌNG NGHĨA
ANH HÙNG LIỆT SỸ: NGUYỄN TRỌNG NGHĨA
Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa sinh năm 1946, người dân tộc Kinh, quê ở Điện Bàn - Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 02/3/1965 nguyên là chính trị viên phó tiểu đoàn 840 là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đồng chí Nghĩa sinh ra ở mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, cha mẹ mất sớm Nghĩa phải rời bỏ quê hương vào ở với người bác tại Hoài Đức - Bình Thuận. Cuộc sống vất vả thời niên thiếu và phải chứng kiến những tội ác của Mỹ - Ngụy đối với đồng bào đã tạo ra ở Nghĩa những đức tính cần cù chịu khó, thương người cùng cảnh khổ và lòng căm thù giặc sâu sắc.
Tháng 3 năm 1965, bộ đội ta tiến công giải phóng huyện Hoài Đức, lúc đó Nghĩa vừa tròn 16 tuổi. Nghe theo tiếng gọi của Đảng, với tình yêu quê hương đất nước Nghĩa lên đường gia nhập quân giải phóng. Thời gian đầu anh làm chiến sĩ bảo vệ bệnh xá tỉnh, Nghĩa rất chịu khó, tận tụy trong công việc để bảo vệ và nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh. Ngoài ra anh còn tham gia vào việc tải thương, đột ấp để lấy lương thực, thực phẩm. Nghĩa luôn luôn gương mẫu xung phong làm mọi việc để giúp đồng đội và góp phần xây dựng bệnh xá. Nghĩa được cán bộ đơn vị và anh em đồng đội tin yêu mến phục.
Đầu năm 1967 theo nguyện vọng của Nghĩa, cũng là lúc tình hình nhiệm vụ yêu cầu tăng cường cho các đơn vị ở phía trước, đồng chí Nghĩa được bổ sung về đại đội 3 tiểu đoàn 840, từ đây đồng chí Nghĩa đã lập được nhiều thành tích xuất sắc. Trong chiến đấu anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, táo bạo, mưu trí linh hoạt, khi còn là chiến sĩ cũng như lúc là cán bộ chỉ huy trung đội, đại đội, tiểu đoàn, ở cương vị nào anh đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Trận Bầu Ốc (Bình Thuận) đêm ngày 06 rạng ngày 07/11/1967, đây là trận đánh vận động tập kích vào một khu vực địch mới đổ quân với lực lượng lớn để chuẩn bị hành quân càn quét vào căn cứ của ta. Trận đánh có quy mô lớn, tiểu đoàn sử dụng đại đội bộ binh 1 - 2 và 3 cùng đại đội 4 hỏa lực, trận này đại đội 3 có nhiệm vụ đảm nhận hướng chủ yếu đánh thẳng vào trung tâm. Khi súng lệnh vang lên tất cả các hướng đều đồng loạt nổ súng không để chúng kịp trở tay đối phó, sau hơn 1 giờ chiến đấu, 3 đại đội của tiểu đoàn đã diệt toàn bộ lực lượng địch ở Bầu Ốc, đại đội 4 đã dùng hỏa lực bắn vào các cụm bộ binh cơ giới địch quanh Bầu Ốc, súng 12,7 ly bắn máy bay quyết liệt tạo điều kiện thuận lợi để bộ binh làm chủ trận địa và rút quân an toàn. Kết quả trận này ta diệt hàng trăm tên địch, phá hủy 35 xe quân sự, bắn rơi 2 máy bay, thu 35 súng các loại. Trong trận đánh này đồng chí Nghĩa cùng tổ 3 người đã tiến công dũng mãnh nhanh chóng thọc vào trung tâm diệt nhiều sinh lực địch, góp phần cho đại đội 3 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Sau thất bại nặng nề trận đổ quân bằng trực thăng ở Hàm Phú ngày 22/11/1967, địch vẫn chưa từ bỏ chiến thuật nhảy cóc, chúng tiếp tục các cuộc hành quân lấn chiếm ra vùng căn cứ của ta, bọn chúng vừa sử dụng bộ binh kết hợp với cơ giới ở Phan Thiết, Thiện Giáo, bám theo đường số 8 càn quét vùng ven và vùng giải phóng; vừa sử dụng trực thăng vận đổ quân nhảy cóc xuống nhiều nơi ở phía sau nhằm chia cắt lực lượng ta và đánh bất ngờ từ phía sau.
Để cùng với các đơn vị bạn đánh bại âm mưu lấn chiếm của địch, trên giao nhiệm vụ cho đại đội 3 bố trí trận địa chốt giữ ở dãy đồi Trúc, dãy đồi này có nhiều mỏm, trung đội 1 và 2 chiếm giữ những mỏm phía trước, trung đội 3 do đồng chí Nghĩa làm trung đội trưởng được bố trí ở đỉnh đồi Trúc, nhiệm vụ của trung đội 3 là sẵn sàng đánh địch đổ quân đột nhập từ bên sườn và phía sau vào trận địa chốt của đại đội, đồng thời quan sát theo dõi mọi hành động của địch.
Sáng ngày 19/12/1967 địch dùng nhiều tốp trực thăng đổ gần 1 đại đội xuống một mỏm phía sau bên cạnh đỉnh đồi Trúc. Đúng như dự đoán của ta. Ngay lập tức đồng chí Nghĩa đã đến từng đoạn hào, công sự nhắc nhở anh em bám chắc vị trí sẵn sàng chiến đấu, hết sức bí mật theo dõi hành động của địch, chờ chúng đến thật gần mới nổ súng. Kiểm tra nhắc nhở anh em vừa xong, về đến vị trí của mình thì bọn địch chia nhiều hướng chủ quan tiến lên điểm cao đồi Trúc, đợi chúng lọt vào trận địa chốt của trung đội đồng chí Nghĩa đã phát lệnh, các tổ chiến đấu đồng loạt nổ súng và ném lựu đạn, cả trận địa vang rền tiếng nổ, địch không kịp trở tay, đứa chết, đứa hốt hoảng lăn xuống triền đồi bỏ chạy, địch bị đánh bật khỏi trận địa.
Dù bị thiệt hại nhưng sau đó chúng lại chấn chỉnh lực lượng đồng thời gọi phi pháo bắn phá dữ dội vào đồi Trúc, sau đó địch điên cuồng tổ chức phản kích cố đánh chiếm trận địa, trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, trung đội 3 vừa chịu đựng bom pháo, vừa phải bắn máy bay và đánh địch phản kích, có đợt vừa dứt phi pháo chúng phóng lựu đạn cay vào trận địa, địch phản kích vào trận địa.
Song với tinh thần dũng cảm, mưu trí, kiên quyết đánh trả, không để cho địch bò lên lấy xáo trộn trận địa. Khi tình hình gặp nhiều khó khăn, nhiều anh em bị thương vong, cả trung đội đều gặp nguy hiểm, đồng chí Nghĩa còn 7 tay súng, không quản nguy hiểm đồng chí Nghĩa đã đến từng công sự gặp đồng đội động viên anh em giữ vững quyết tâm, củng cố công sự, quyết tâm giữ vững trận địa.
Suốt một ngày chiến đấu với địch, trung đội 3 do Nghĩa chỉ huy đã đánh bật các đợt phản kích của địch, diệt gần 40 tên, bắn cháy 4 máy bay trực thăng. Lúc này trời về chiều, biết không thể nào đánh chiếm được đồi Trúc bọn chúng phải rút quân. Thắng lợi của trận đánh này đã có tác dụng lớn, cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội ta trên chiến trường Khu 6 thi đua diệt địch và bắn cháy trực thăng vận của chúng.
Trong cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968, Nguyễn Trọng Nghĩa đã liên tục hành quân qua nhiều địa hình phức tạp. Trong trận tập kích đêm 02/02/1968 tại thị xã Phan Thiết, Nguyễn Trọng Nghĩa đã xông lên chỉ huy trung đội tiến công đánh chiếm các mục tiêu được giao. Ngày 3/2 xây dựng trận địa tổ chức tập kích, hướng trung đội 3 địch tổ chức trụ lại đánh địch phản kích, hướng trung đội 3 địch tổ chức trụ lại đánh địch phản kích, có xe tăng và phi pháo yểm trợ, tập trung đông quân nhưng không sao tiến lên được. Địch điên cuồng phản kích, chỉ huy trung đội, trong trận này vừa diệt gần 30 tên địch, vừa...
Ngày 02/02/1968 tới cuối ngày, đồng chí Nghĩa liên tục tham gia chiến đấu, đánh trên 15 trận lớn, nhỏ, diệt 176 tên địch, bắn cháy 9 xe tăng và xe bọc thép.
Nhiều trận đánh lớn đồng chí Nghĩa tham gia và đã lập công xuất sắc như trận tập kích đêm 17 tháng 02 năm 1968 giải thoát cho hơn 800 đồng bào. Trận phục kích trên đường 8 ngày 14/4/1968 diệt 250 tên địch, bắn cháy 12 xe quân sự. Trận chợ Nam Thuận Phong ngày 21/7/1968 ta diệt 340 tên địch, bắn cháy 7 xe tăng, trận tập kích tại Xuân Phong (nam Phan Thiết) đồng thời trụ lại đánh địch phản kích vào các ngày 21 và 22/6/1968...
Năm 1968 đồng chí Nghĩa là một trong những cán bộ đã có những đóng góp xuất sắc nhất vào thành tích to lớn về chiến đấu và xây dựng của đại đội 3. Vào dịp cuối năm 1968 Nhà nước ta đã trao tặng đại đội 3 và đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Chiến công nối tiếp chiến công, Nguyễn Trọng Nghĩa đã liên tục tham gia chiến đấu trong suốt những năm từ 1969 đến 1972, lập nhiều chiến công như các trận Bàu Đá, dốc Cúng và Bình Lâm... Trong chiến đấu đồng chí đã trưởng thành nhanh chóng, từ trung đội trưởng lên đại đội, rồi giữ cương vị chính trị viên phó tiểu đoàn 840.
Đặc biệt trong trận đánh địch phản kích ngày 28/10/1972 ở ấp Tân Điển anh đã lập công xuất sắc. Suốt một ngày địch đánh vào trận địa, đồng chí Nghĩa đã chỉ huy trung đội trinh sát, cùng với hướng chiến đấu của đại đội 1 và 2 đánh bại các đợt tiến công của địch, tiêu diệt hơn 160 tên địch, bắn cháy 9 xe tăng và xe bọc thép.
Tám năm cầm súng chiến đấu, Nguyễn Trọng Nghĩa đã đánh gần 60 trận lớn nhỏ, liên tục tham gia chiến đấu cùng với đại đội 3 và tiểu đoàn 840, tiêu diệt gần 300 tên địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.
Đồng chí Nghĩa đã nêu tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm, ý chí quyết chiến, quyết thắng, phong cách chỉ huy mưu trí linh hoạt, táo bạo, đánh chọc thẳng vào trung tâm địch, đánh vào sườn của địch, tạo nên nhiều đòn đánh đau, bất ngờ, đạt hiệu suất chiến đấu cao và lập công xuất sắc.
Anh được tặng 1 huân chương chiến công giải phóng hạng nhất, nhiều huân chương chiến công giải phóng hạng 2 và 3, 1 huân chương quân công hạng 3 và danh hiệu Anh hùng LLVTND vào cuối năm 1968.



