Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng LLVT Nguyễn Phan Vinh

Anh hùng LLVT nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh

Vĩnh Long02/03/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã An Ngãi Trung (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã An Ngãi Trung)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Hồ Thăng Nhuận hiện nay ở phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng.

Ngôi nhà ông ở nằm trong một ngõ nhỏ, gần đường Phan Vinh và Trường Tiểu học Nguyễn Phan Vinh. Một sự ngẫu nhiên hay là ý định của chủ nhà? Bởi ông Nhuận vốn là cấp phó của thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh, từng 4 lần cùng người anh hùng đưa vũ khí vào Nam thành công. Ông kể:

Trong lúc làm nhiệm vụ, Nguyễn Phan Vinh là chỉ huy, nhưng lúc đời thường anh ấy coi tôi như một người anh, bởi tôi hơn 7 tuổi. Vả lại, hai đứa là đồng hương (tôi ở xã Hòa Quý, huyện Hòa Vang, còn Phan Vinh ở xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) lại chưa vợ nên thân nhau lắm. Vinh người tầm thước, thư sinh, trán cao, mắt sáng, rất sôi nổi, linh hoạt, khi gặp địch rất cương quyết và sáng suốt. Anh giỏi về hàng hải, là một trong những thuyền trưởng giàu thành tích nhất của Đoàn 125.ôi gặp Nguyễn Phan Vinh lần đầu tiên vào năm 1962, ở 83 Lý Nam Đế, Hà Nội, trụ sở của Đoàn tàu không số và thân nhau từ đó. Chuyến đi đầu tiên của tôi là làm phó cho Thuyền trưởng Vũ Tấn Ích, sau đó tôi được điều sang làm phó cho Phan Vinh 4 chuyến liền. Tôi nhớ nhất là chuyến đi thứ ba cùng với anh ấy.

Ngày 24-4-1964, Đoàn 125 lệnh cho hai tàu 68 và 55 rời bến một lúc. Tàu 68 do Thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Ẩn và Chính trị viên Quang Phùng chỉ huy, chở 70 tấn vũ khí vào Bạc Liêu, còn Tàu 55 do Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và Chính trị viên Hồ Đức Thắng chỉ huy, chở 72 tấn vũ khí vào Trà Vinh. 9 giờ đêm chúng tôi xuất phát ở K15 (Đồ Sơn-Hải Phòng), chạy đến vùng biển phía Nam thì bị tàu địch bám theo. Lúc đó, anh Vinh đứng trên ca-bin chỉ huy, còn tôi đứng dưới boong tàu sẵn sàng nhận lệnh của thuyền trưởng. Anh Vinh truyền đạt: Tất cả bình tĩnh, ai làm việc nấy. Tôi cho một số thủy thủ phơi lưới, còn mình ngồi vá lưới, giả dạng là thuyền đánh cá. Còn tàu vẫn chạy theo hành trình. Nghi ngờ tàu 55, địch bắn một loạt đuổi theo. Đang vá lưới, tôi bỗng thấy đau nhói ở bụng và môi. Sờ tay xuống dưới và lên mặt, thấy máu. Thì ra mảnh đạn văng ra từ mạn tàu làm tôi bị thương. Anh em dìu tôi vào phòng thuyền trưởng băng bó. Phan Vinh mặc dù căng mình chỉ huy tàu luồn lách tránh địch để vào bến an toàn nhưng thường xuyên thăm hỏi, động viên tôi. Trở về Bắc, tôi vào nằm ở Viện 7 Hải quân, anh ấy vẫn thường xuyên đến săn sóc. Chúng tôi thân thiết như anh em ruột thịt.

Phan Vinh sống sôi nổi, có tâm hồn nghệ sĩ nhưng rất tiết kiệm của công. Tàu về cảng, anh quy định nghiêm ngặt trong sử dụng nước ngọt, đi ngủ phải tắt hết đèn để tránh lãng phí. Nguyên tắc là vậy, nhưng anh nhân hậu với đồng đội. Một lần, tàu xuất phát được một đoạn, anh em thủy thủ đưa con lốc ra để đo vận tốc, chẳng may làm tuột xuống biển. Tưởng Phan Vinh sẽ nổi nóng, nhưng anh chỉ mỉm cười, sau đó nhắc anh em hết sức cẩn thận. Tôi đi chuyến thứ tư với anh ấy rồi chuyển sang tàu khác. Không ngờ năm 1968, trong một lần đưa hàng vào Hòn Hèo, anh và một số đồng đội đã vĩnh viễn ra đi.

Năm 1976, tôi về hưu và chuyển vợ con từ ngoài Bắc vào đây. Một thời gian sau, con đường gần nhà tôi ở được mang tên anh. Hằng ngày đi trên con đường này, tôi lại nhớ về một người đồng đội thân thiết, một thuyền trưởng tài ba và dũng cảm…Vì ông Hồ Thăng Nhuận không đi chuyến cuối cùng với người thuyền trưởng huyền thoại, nên từ Đà Nẵng, tôi trở ra Hải Phòng tìm gặp ông Nguyễn Văn Phong, thủy thủ phụ trách súng 14,5mm của Tàu 235.

Ông Phong quê ở xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, năm nay 66 tuổi nhưng với vẻ bề ngoài phương phi, đạo mạo, trông ông trẻ hơn tuổi. Về chuyến đi cuối cùng của Nguyễn Phan Vinh đã có nhiều người viết, song tôi muốn biết cuộc chiến đấu anh dũng của thủy thủ Tàu 235 trên biển và trên đất liền, sự quật cường giành lấy sự sống của những người còn lại. Nghe vậy, ông Phong kể:

Sau sự kiện Vũng Rô năm 1965, địch tăng cường bố phòng gắt gao trên biển. Ta thay đổi chiến thuật, đóng hai tàu tốc độ cao là 235 và 246 xuất phát từ đảo Hải Nam cắt sang Phi-líp-pin rồi từ đó cắm thẳng vào vị trí tập kết, thả hàng… Anh Phan Vinh được giao trọng trách làm Thuyền trưởng Tàu 235. Lúc đó, tôi đang ở Phân đội 1 tàu tuần tiễu T120, do sử dụng thành thạo súng 14,5mm nên được điều về Tàu 235.

Ngày 6-2-1968, Tàu 235 được lệnh chở 60 tấn vũ khí vào Nam. Chạy được 3 ngày thì phải quay ra do bị lộ. Chúng tôi neo đậu tại cảng Hải Khẩu (Hải Nam-Trung Quốc) ở đó học tập chính trị và đợi lệnh.

11 giờ 30 phút ngày 27-2-1968, với 20 cán bộ, chiến sĩ, Tàu 235 được lệnh xuất phát. Chúng tôi đi trong gió mùa Đông Bắc cấp 6, cấp 7 và tàu chiến, máy bay địch luôn dòm ngó. Đêm 29-2, không thấy tàu địch, từ ngoài khơi Thuyền trưởng Phan Vinh lệnh cho tàu cắm thẳng vào bờ. Đến 1 giờ ngày 1-3, tàu vào vị trí thả hàng quy định. Sau này, khi sống sót trở về, tôi mới biết đó là Hòn Một thuộc bán đảo Hòn Hèo, cách TP Nha Trang 12 hải lý về phía bắc. Địa thế Hòn Hèo phức tạp, nhiều mỏm núi nhô ra biển, nhiều đá ngầm, luồng hẹp. Cấp trên biết vậy, nhưng tin vào tài năng của Nguyễn Phan Vinh nên quyết định cho Tàu 235 vào Hòn Hèo.

Sau một tiếng đồng hồ, tất cả vũ khí đạn dược được chúng tôi thả xuống biển. Việc buộc hàng đóng kiện như thế nào đã được ở nhà tính toán kỹ, nhưng không hiểu lý do gì mà một số kiện hàng lại nổi, nên khi địch bắn pháo sáng thấy trắng xóa trên biển. Thuyền trưởng Phan Vinh và Chính trị viên Nguyễn Văn Tương đang bàn nhau dùng dây kéo hàng vào một chỗ thì đúng lúc đó phía ngoài biển, tất cả các tàu địch đều đồng loạt bật đèn pha. Thì ra, Tàu 235 đã bị địch theo sát. Dưới ánh pháo sáng và đèn pha của địch, Tàu 235 trơ trọi ngay trước các họng súng đen ngòm. Địch dùng loa kêu gọi đầu hàng và từ từ tiến vào. Anh Phan Vinh hô: “Tất cả vào vị trí chiến đấu!”. Tôi lao đến số 1 vị trí 5 của súng 14,5mm ở đuôi tàu. Địch bắt đầu nhả đạn, máy bay đến bắn rốc-két, trên bờ, pháo của Sư đoàn Bạch Mã bắn ra. Từng cột nước dựng đứng quanh tàu, đạn cày xới, nổ chát chúa trên boong… Con tàu 235 sáng rực trên biển. Nó bị trúng đạn, máy hỏng, không thể cơ động được. Tôi nghiến răng bắn hết 12 băng đạn về phía địch. Chừng nửa tiếng sau, Thuyền trưởng Phan Vinh với cái đầu bị băng bó từ buồng lái chạy xuống, nói to: “Các đồng chí! Tàu bị hỏng, không cơ động được. Chính trị viên và một số đồng chí đã hy sinh. Tất cả mọi người về vị trí đánh bộc phá, thời gian 15 phút!”. Sau đó, thuyền trưởng lệnh cho mọi người rời tàu trước, còn anh và anh Thứ máy nhất rời sau. Bơi vào đến bờ, vừa nấp vào các hốc đá, một khối lửa từ Tàu 235 bùng lên sáng rực cả khu biển, tiếp theo là tiếng nổ kinh thiên động địa. Con tàu thân yêu của chúng tôi vĩnh viễn nằm lại với đại dương.Sau đó, chúng tôi điểm lại quân số, thấy chỉ còn 7 người. Sau này tôi mới biết anh Phan Vinh và anh Thứ lên bờ đi theo hướng Đông Bắc gặp địch. Hai anh chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh anh dũng. Còn 7 người chúng tôi thì anh Nhi thuyền phó bị thương ở hai đầu gối không đi được, đến ngày thứ 5 kiên quyết đòi nằm lại để khỏi phiền đồng đội, rồi sau đó mất tích. Anh Khung khát quá xuống suối tìm nước bị địch bắt. Còn lại 5 anh em, đêm đi ngày lẩn trốn vào các bụi cây. Đi mãi, đi mãi cũng không ra khỏi Hòn Hèo vì địch đổ bộ hai tiểu đoàn xuống càn quét. Không cơm ăn, nước uống, chúng tôi phải tìm tổ kiến, ốc sên để ăn, phải uống cả nước tiểu của mình. Đến ngày thứ 5, cứ thấy lá gì, cây gì là bỏ vào miệng nhai. Ngày thứ 7, thứ 8 chân rướm máu, sưng tấy lên, phải lấy cỏ quấn vào bàn chân để đi. Máy bay địch vẫn bay vè vè và dùng loa chiêu hồi. Mặc kệ, chúng tôi vẫn dìu nhau đi, mặc dù chẳng biết đi đâu.

Đến ngày thứ 13 thì chúng tôi gặp một người đánh cá. Thăm dò qua lại, may quá, thì ra đó là anh Đối, cán bộ của bến đi tìm anh em thủy thủ. Anh Đối đưa 5 người về cơ sở của ta ở xã Linh Diêm, huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa). Ở đó 3 tháng, các thủy thủ được đưa lên căn cứ A100 trên núi rồi từ đó đi bộ vượt Trường Sơn ra Bắc…

Có một chuyện làm tôi nhớ mãi là khi về Linh Diêm, các anh ở bến kể lại đã chôn cất 2 thi thể không còn nguyên vẹn, trong đó có một người mặc áo blu-dông. Cả 5 anh em sững sờ vì đó là chiếc áo quen thuộc mà anh Phan Vinh hay mặc. Ai cũng ngậm ngùi, đau xót, thương tiếc người thuyền trưởng tài giỏi, nhiều kinh nghiệm, sống đầm ấm, coi thủy thủ như những người em. Năm ấy, anh Phan Vinh 33 tuổi và vẫn chưa lập gia đình…

Chuyến đó, đồng đội tôi hy sinh 14 người. Bây giờ qua Hòn Một, vẫn còn chiếc ca-bin của Tàu 235 do sức công phá của thuốc nổ bay lên. Nó chính là chứng tích của trận chiến Hòn Hèo hào hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn