Anh hùng LLVT nhân dân Lê Hữu Trạc – Ánh sáng không bao giờ tắt
Tác giả: Nhữ Vũ Khánh Linh
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc đã không còn nhìn thấy biển từ mùa Thu năm 1968. Nhưng trong ký ức của ông, Cồn Cỏ vẫn xanh như những ngày đầu đặt chân lên đảo, đồng đội vẫn trẻ như thuở cùng nhau bước vào trận đánh. Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, cuộc đời của Anh hùng LLVT nhân dân Lê Hữu Trạc vẫn tiếp tục được viết bằng nghị lực, lòng yêu nước và khát vọng sống có ích cho cộng đồng.
Tuổi đôi mươi giữ đảo Tiền Tiêu
Cựu chiến binh Lê Hữu Trạc sinh năm 1941 tại thôn Xuân Dục, xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, nay thuộc xã Trường Ninh, tỉnh Quảng Trị. Ông sinh ra trong một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Tuổi thơ của ông gắn với đồng ruộng, dòng Long Đại và những câu chuyện về những người con quê hương gan dạ, kiên trung bảo vệ đất nước.
Tháng 4-1962, Lê Hữu Trạc viết đơn tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân tại Vĩnh Linh, Quảng Trị, với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến. Từ những ngày huấn luyện trên thao trường đến những trận chiến đấu đầu tiên, ông được đồng đội biết đến là người bình tĩnh, gan dạ và chấp hành nghiêm kỷ luật.
Năm 1965, trước yêu cầu bảo vệ đảo Cồn Cỏ, Đại đội Lê Hồng Phong được giao nhiệm vụ lựa chọn những cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh và kinh nghiệm chiến đấu để tăng cường ra đảo. Cồn Cỏ tuy là một hòn đảo nhỏ, cách đất liền khoảng 17 hải lý nhưng có vị trí đặc biệt quan trọng. Từ đây có thể quan sát hoạt động của tàu chiến và máy bay đối phương trên vùng biển vĩ tuyến 17. Vì vậy, đảo trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân và hải quân Mỹ.
Nhận thức rõ vị trí quan trọng của đảo, Lê Hữu Trạc là một trong những người đầu tiên xung phong ra Cồn Cỏ. Trên cương vị Trung đội phó kiêm Bí thư chi bộ, ông đề xuất đồng đội cùng cạo trọc đầu nhằm tiết kiệm nước ngọt trong sinh hoạt và thuận lợi hơn khi chiến đấu. Ý tưởng này được chỉ huy và đồng đội đồng tình.
Đối với những người lính khi ấy, giữ đảo không chỉ là một nhiệm vụ chiến đấu mà còn là trách nhiệm bảo vệ vị trí tiền tiêu của Tổ quốc. Lê Hữu Trạc cùng đồng đội hiểu rằng, trong điều kiện chiến đấu khốc liệt, sự sống và cái chết có thể chỉ cách nhau trong gang tấc, nhưng người lính vẫn phải kiên cường bám trụ trận địa.
Gần 1.000 ngày đêm trên đảo là quãng thời gian Lê Hữu Trạc cùng đồng đội thường xuyên đối mặt với bom đạn và những trận đánh ác liệt. Nhiều ngày, tàu chiến và máy bay Mỹ liên tục đánh phá. Đất đá bị cày xới, cây cối đổ ngổn ngang, công sự vừa được gia cố lại tiếp tục bị phá hủy.
Trong hoàn cảnh đó, Lê Hữu Trạc cùng đồng đội vừa chiến đấu, vừa đào giao thông hào, củng cố hầm trú ẩn, vận chuyển lương thực, đạn dược và chăm sóc thương binh.
Điều kiện sinh hoạt trên đảo cũng vô cùng thiếu thốn. Nước ngọt phải chắt chiu từng giọt, còn lương thực và thuốc men phải bí mật vận chuyển từ đất liền ra. Có những thời điểm tàu tiếp tế không thể cập đảo do sự phong tỏa của máy bay và tàu chiến đối phương. Cán bộ, chiến sĩ phải chia sẻ với nhau từng nắm gạo, từng ngụm nước.
Trong ký ức của Lê Hữu Trạc, Cồn Cỏ không chỉ có bom đạn mà còn có tình đồng đội sâu sắc. Những người lính từ nhiều miền quê khác nhau coi nhau như anh em, chia sẻ với nhau từng điếu thuốc, lá thư từ quê nhà và cùng động viên nhau vượt qua khó khăn, bệnh tật.
Lê Hữu Trạc luôn có mặt ở những nơi khó khăn, cùng đồng đội chiến đấu và góp phần giữ vững trận địa trên đảo. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, ông ba lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
Tuy nhiên, khi nhắc đến những thành tích ấy, ông luôn cho rằng đó là công lao chung của cả đơn vị. Trên Cồn Cỏ, không có chiến công nào chỉ thuộc về một cá nhân; mỗi trận đánh là kết quả của sự hiệp đồng, lòng dũng cảm và sự hy sinh của nhiều đồng đội.
Không khuất phục trước bóng tối
Mùa xuân năm 1968, Lê Hữu Trạc trở về đất liền nhận nhiệm vụ mới. Trên cương vị chỉ huy Đại đội Lê Hồng Phong, ông cùng đơn vị cơ động trên nhiều hướng chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, tham gia đánh chặn các tuyến tiếp viện của đối phương lên Khe Sanh.
Với những thành tích trong chiến đấu cùng bản lĩnh chỉ huy, Lê Hữu Trạc được cấp trên bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270, Quân khu 4.
Tháng 8-1968, Lê Hữu Trạc cùng một chiến sĩ liên lạc đi trinh sát khu vực phía Tây Vĩnh Linh để chuẩn bị phương án chống địch đổ bộ đường không. Trên đường trinh sát thực địa, đội hình do ông chỉ huy vướng phải bom nổ chậm. Người chiến sĩ liên lạc đi cùng hy sinh tại chỗ, còn Lê Hữu Trạc được đồng đội tìm thấy trong tình trạng bị thương nặng, hai mắt bị mù vĩnh viễn.
Rời quân ngũ vì những thương tích nặng do chiến tranh, điều khiến Lê Hữu Trạc trăn trở là phải làm sao tiếp tục sống có ích, không trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Tại trại an dưỡng Ba Vì, ông gặp cô Kim Thị Mão, quê Hà Tây. Cảm phục trước nghị lực và nhân cách của người lính đã dành tuổi trẻ cho Tổ quốc, Kim Thị Mão quyết định theo ông về Xuân Ninh sinh sống, trở thành người đồng hành và đôi mắt dẫn đường cho ông trong suốt quãng đời sau này.
Tháng 7-2025, bà Kim Thị Mão qua đời, để lại trong ông Lê Hữu Trạc một khoảng trống lớn.
Sống có ích cho cộng đồng
Trở về cuộc sống đời thường, Lê Hữu Trạc tham gia Hội Người mù của tỉnh. Từ một hội viên, bằng sự tận tâm và trách nhiệm, ông được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Người mù đầu tiên của tỉnh Quảng Bình.
Trên cương vị đó, ông cùng tập thể cán bộ Hội đi đến nhiều địa phương, vận động xây dựng tổ chức Hội, mở các lớp dạy nghề và tạo việc làm, giúp nhiều người khiếm thị có điều kiện tự nuôi sống bản thân, hòa nhập với cộng đồng.
Mỗi khi gặp một thương binh hay một người khiếm thị, ông lại kể câu chuyện của chính mình. Ông không kể để nói về những đau đớn đã trải qua mà để động viên mọi người vượt lên hoàn cảnh. Đối với ông, mất đi ánh sáng của đôi mắt không có nghĩa là mất đi ánh sáng của cuộc đời.
Trong quá trình chiến đấu và công tác, Trung úy, Đại đội trưởng Lê Hữu Trạc được tặng thưởng một Huân chương Chiến công hạng Nhì, một Huân chương Chiến công hạng Ba và một Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Tháng 4-2018, sau hơn nửa thế kỷ kể từ những năm tháng chiến đấu trên đảo Cồn Cỏ và chiến trường Quảng Trị, cựu chiến binh Lê Hữu Trạc được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đối với ông, danh hiệu cao quý ấy không chỉ là niềm vinh dự của riêng mình mà còn là sự tri ân đối với những đồng đội đã mãi mãi nằm lại tại Cồn Cỏ, Cửa Việt, Vĩnh Linh và nhiều chiến trường khác. Ông luôn nhắc rằng, nếu không có sự hy sinh của đồng đội thì sẽ không có những người còn sống để nhận bất cứ danh hiệu nào.
Chiều muộn ở Xuân Ninh, nắng nhạt dần trên những hàng tre trước ngõ. Anh hùng LLVT nhân dân Lê Hữu Trạc lặng lẽ ngồi trước hiên nhà, lắng nghe tiếng gió từ phía biển thổi về.
Từ rất lâu rồi, ông không còn nhìn thấy biển, bầu trời hay sông nước. Nhưng trong ký ức, Cồn Cỏ vẫn hiện lên với màu xanh của biển, màu đỏ của lá cờ Tổ quốc và hình ảnh những người đồng đội tuổi đôi mươi.
Đó là ánh sáng của nghị lực và niềm tin, một thứ ánh sáng không đến từ đôi mắt nhưng chưa bao giờ tắt trong cuộc đời Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc.



