Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tài
Ở tuổi 76, Trung tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân Nguyễn Văn Tài, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tây Đô I vẫn giữ được sự minh mẫn và tác phong nhanh nhẹn của người lính năm xưa. Trong căn nhà nhỏ ở TP Cần Thơ, ông cẩn thận nâng niu tấm bằng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân hồi tưởng về những năm tháng chiến đấu vì độc lập dân tộc.
Những ngày tháng 6, chúng tôi len lỏi qua những con hẻm nhỏ bình yên giữa lòng TP Cần Thơ sôi động, tìm đến nhà Trung tá Nguyễn Văn Tài theo lời hẹn trước. Đón chúng tôi ở cửa là một cụ ông có dáng người đậm, nụ cười hiền lành và giọng nói rặt chất Nam Bộ ấm áp của một người ông, người cha trong gia đình.Sinh năm 1950 tại xã Trường Thành, huyện Ô Môn, tỉnh Hậu Giang (nay thuộc TP Cần Thơ), ông Tài lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Trong 9 anh em, nhiều người đã sớm bước vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Chiến tranh để lại những mất mát khôn nguôi đối với gia đình ông: Cha hy sinh năm 1966, người anh trai kế ngã xuống năm 1968 và anh cả hy sinh năm 1969. Những đau thương, mất mát liên tiếp ấy không làm chàng trai trẻ lùi bước, mà càng hun đúc ý chí chiến đấu sục sôi. Năm 1965, khi mới 15 tuổi, ông Tài đã tham gia lực lượng cách mạng tại địa phương. Sau khi cha hy sinh, năm 1967, ông chính thức thoát ly gia đình, trở thành chiến sĩ của Tiểu đoàn Tây Đô, đơn vị bộ binh chủ lực và là niềm tự hào của quân dân Cần Thơ với lời thề sắt son: “Ra đi là chiến thắng, đánh là tiêu diệt”.
Nhắc lại những ngày đầu cầm súng, ông nở nụ cười hiền hậu: “Lúc đó có nghĩ gì nhiều đâu, chỉ biết đánh giặc để giải phóng quê hương, giải phóng đất nước”.
Giai đoạn sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trước yêu cầu phát triển của chiến trường, đơn vị liên tục chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn về cả quân số lẫn trang bị, còn địch thì điên cuồng càn quét, bình định. Chính trong lửa đạn ác liệt ấy, người lính Nguyễn Văn Tài càng được tôi luyện bản lĩnh. Cuối năm 1968, từ một chiến sĩ, trưởng thành từ thực tiễn, ông được lựa chọn đào tạo đặc công và chuyển sang đảm nhiệm công tác trinh sát, một nhiệm vụ đối mặt với hiểm nguy trong gang tấc. Trước mỗi trận đánh, ông cùng đồng đội phải bí mật áp sát, luồn sâu vào hệ thống phòng ngự để nghiên cứu, xây dựng phương án tác chiến. “Có khi phải đi ròng rã hai, ba đêm liền mới hoàn thành nhiệm vụ”, ông nhớ lại.
Một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông là trận tiến công yếu khu Quang Phong vào đêm ngày 6 rạng sáng 7-4-1972. Khi ấy, trên cương vị Phân đội trưởng Đặc công - Trinh sát của Tiểu đoàn Tây Đô, ông trực tiếp nhận nhiệm vụ bí mật áp sát để vẽ sơ đồ sa bàn, nghiên cứu quy luật hoạt động của địch. Thời điểm đó, sau nhiều năm bám trụ chiến trường ác liệt, lực lượng chiến đấu của Tiểu đoàn Tây Đô bị tổn thất lớn, quân số toàn đơn vị chỉ còn khoảng hơn 100 cán bộ, chiến sĩ. Trong khi đó, yếu khu Quang Phong là một căn cứ kiên cố, được bảo vệ nghiêm ngặt bằng hệ thống đồn bốt dày đặc.



