Bài viết

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tài – Vinh quang được viết bằng máu xương đồng đội

Có những người lính khi nhắc lại những năm tháng chiến tranh không kể nhiều về mình. Họ nói về đơn vị, về đồng đội, về những người đã nằm lại trên chiến trường và về một ước nguyện rất đỗi giản dị: đất nước sớm có ngày hòa bình.

Cần Thơ29/09/2026Xã Vạn Tường (Đoàn xã Vạn Tường)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tài – Vinh quang được viết bằng máu xương đồng đội

Có những người lính khi nhắc lại những năm tháng chiến tranh không kể nhiều về mình. Họ nói về đơn vị, về đồng đội, về những người đã nằm lại trên chiến trường và về một ước nguyện rất đỗi giản dị: đất nước sớm có ngày hòa bình.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tài là một người như thế.

Những năm tháng cầm súng của ông gắn với Tiểu đoàn Tây Đô – một đơn vị đã chiến đấu bền bỉ trên chiến trường Cần Thơ trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ một chiến sĩ trưởng thành giữa những trận đánh khốc liệt, ông từng bước trở thành cán bộ đặc công – trinh sát, trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ đòi hỏi sự gan dạ, kiên trì và chính xác cao.

Nhưng khi nói về danh hiệu Anh hùng được trao tặng sau ngày đất nước thống nhất, điều ông nhớ nhất không phải là niềm tự hào dành cho riêng mình.

Đó là những người đồng đội đã cùng ông đi qua chiến tranh.

5375713173f0f2aeabe1.jpg

Từ người thanh niên chỉ biết một điều: đánh giặc

Những ngày đầu bước vào cuộc chiến, Nguyễn Văn Tài cũng như nhiều người lính cùng thế hệ, mang theo một suy nghĩ rất giản dị.

Không có những tính toán lớn lao về tương lai. Không ai biết chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu. Càng không thể biết mình sẽ trở về hay nằm lại nơi nào đó trên chiến trường.

Điều thôi thúc họ cầm súng đơn giản là mong muốn quê hương được giải phóng, đất nước được độc lập.

Sau này, khi nhớ lại những ngày đầu quân ngũ, ông chỉ cười hiền và nói rằng lúc ấy chẳng nghĩ gì nhiều, chỉ biết chiến đấu để góp phần giải phóng quê hương, giải phóng đất nước.

Chính từ sự giản dị ấy, một người lính trưởng thành.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chiến trường bước vào giai đoạn hết sức khốc liệt. Các đơn vị phải liên tục cơ động, chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn cả về quân số lẫn trang bị. Phía đối phương tăng cường các hoạt động càn quét, bình định, tìm cách kiểm soát địa bàn.

Trong hoàn cảnh ấy, những người lính của Tiểu đoàn Tây Đô phải dựa vào nhau để chiến đấu và tồn tại.

Nguyễn Văn Tài cũng trưởng thành từ chính những ngày tháng như vậy.

Trưởng thành từ thực tiễn chiến trường

Cuối năm 1968, sau thời gian trực tiếp chiến đấu, Nguyễn Văn Tài được lựa chọn đào tạo về đặc công và chuyển sang làm nhiệm vụ trinh sát.

Đó là một công việc đặc biệt trong tác chiến.

Người trinh sát phải đi trước, phải tìm hiểu địa hình, xác định vị trí bố trí lực lượng, nắm quy luật hoạt động của đối phương và cung cấp những thông tin cần thiết để cấp chỉ huy xây dựng phương án đánh.

Mỗi thông tin thu thập được đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của một trận đánh.

Vì vậy, công việc ấy đòi hỏi người lính không chỉ gan dạ mà còn phải bình tĩnh, tinh ý và có khả năng chịu đựng rất lớn.

Có những nhiệm vụ phải bí mật luồn sâu, bám địa bàn trong nhiều ngày. Có khi ông cùng đồng đội phải đi liên tục hai, ba đêm mới hoàn thành được công việc.

Đằng sau một trận đánh thành công là rất nhiều giờ phút âm thầm như thế.

Người lính trinh sát có thể không phải là người xuất hiện ở vị trí nổi bật nhất khi trận đánh bắt đầu, nhưng những gì họ thu thập được lại trở thành cơ sở để đồng đội lựa chọn hướng tiến công, cách tiếp cận và phương án chiến đấu.

Nguyễn Văn Tài đã trưởng thành qua những nhiệm vụ như vậy.

Trận đánh ở yếu khu Quang Phong

Trong cuộc đời quân ngũ của Nguyễn Văn Tài, trận tiến công yếu khu Quang Phong vào đêm 6, rạng sáng 7-4-1972 là một dấu mốc đặc biệt.

Khi ấy, ông giữ cương vị Phân đội trưởng Đặc công - Trinh sát của Tiểu đoàn Tây Đô.

Trước giờ nổ súng, nhiệm vụ của ông và phân đội là bí mật tiếp cận mục tiêu, nghiên cứu hệ thống phòng thủ, nắm tình hình và xây dựng sơ đồ phục vụ trận đánh.

Đây là nhiệm vụ được thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn.

Sau nhiều năm chiến đấu, lực lượng của Tiểu đoàn Tây Đô đã chịu nhiều tổn thất. Toàn đơn vị khi ấy chỉ còn hơn 100 cán bộ, chiến sĩ. Trong khi đó, yếu khu Quang Phong là một căn cứ được tổ chức phòng thủ chặt chẽ với nhiều vị trí đồn bốt.

Một trận đánh vào mục tiêu như vậy đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng và khả năng nắm chắc tình hình.

Những kết quả trinh sát của phân đội Nguyễn Văn Tài đã góp phần quan trọng vào việc xác định phương án tác chiến.

Khi lệnh tiến công được phát ra, các mũi của Tiểu đoàn Tây Đô nhanh chóng triển khai theo phương án đã chuẩn bị. Lực lượng tiến sâu vào khu vực trọng yếu, đánh vào trung tâm phòng thủ.

Trận chiến diễn ra quyết liệt.

Theo tư liệu, kết quả trận đánh, ta đã tiêu diệt một đại đội bảo an, một trung đội pháo binh, phá hủy hai khẩu pháo 105mm và làm chủ yếu khu Quang Phong.

Chiến thắng này tạo tác động đáng kể đối với hệ thống phòng thủ của đối phương tại khu vực Phụng Hiệp, góp phần phá thế kiểm soát ở các đồn bốt xung quanh và tạo điều kiện để phong trào cách mạng trên địa bàn tiếp tục phát triển.

Nhưng phía sau một chiến thắng luôn là những mất mát mà người lính hiểu rõ hơn ai hết.

Hơn 400 trận đánh và một thế hệ không tiếc tuổi xuân

Từ tháng 3-1968 đến hết năm 1974, Tiểu đoàn Tây Đô không ngừng phát triển trong chiến đấu.

Theo tư liệu, trong khoảng thời gian này, đơn vị đã tham gia hơn 400 trận đánh lớn, nhỏ; tập trung tiến công các cứ điểm, đồng thời tổ chức đánh trả và ngăn chặn nhiều cuộc hành quân, càn quét trên địa bàn tỉnh Cần Thơ.

Năm 1973, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Cần Thơ đạt nhiều kết quả trong chiến đấu, trong đó Tiểu đoàn Tây Đô có những đóng góp đáng kể vào thành tích đánh bại 75 lượt tiểu đoàn đối phương.

Cùng với sự phát triển của lực lượng vũ trang địa phương, Tiểu đoàn Tây Đô được tổ chức thành ba đơn vị: Tây Đô I, Tây Đô II và Tây Đô III.

Những con số ấy cho thấy cường độ chiến đấu của một đơn vị hoạt động trong lòng chiến trường Nam Bộ. Nhưng với những người trực tiếp trải qua chiến tranh, phía sau mỗi con số lại là những gương mặt cụ thể.

Là đồng đội từng chia nhau từng phần lương thực.

Là những người cùng hành quân trong đêm.

Là những người đã từng đứng cạnh nhau trước giờ xuất kích.

Và cũng có những người không bao giờ trở về.

Bởi vậy, khi nhìn lại chiến tranh, Nguyễn Văn Tài không coi những chiến công là câu chuyện của riêng mình.

Danh hiệu Anh hùng và món nợ với đồng đội

Ngày 20-10-1976, chưa đầy hai năm sau ngày đất nước thống nhất, Nguyễn Văn Tài được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đó là sự ghi nhận cao quý đối với một người lính đã có nhiều đóng góp trong những năm tháng chiến đấu.

Điều đặc biệt là ông không biết trước mình sẽ được tuyên dương.

Tin tức đến với ông qua sóng phát thanh khi đang sinh hoạt cùng đơn vị.

Một danh hiệu cao quý, đáng lẽ có thể trở thành khoảnh khắc để người được phong tặng nói về niềm tự hào của bản thân.

Nhưng với Nguyễn Văn Tài, suy nghĩ đầu tiên lại hướng về đồng đội.

Bởi ông hiểu rằng mình không thể có ngày hôm nay nếu không có những người đã cùng chiến đấu, những người đã dìu nhau qua những năm tháng khốc liệt, và cả những người đã vĩnh viễn nằm lại.

Danh hiệu Anh hùng vì thế, trong cách nhìn của ông, không phải là chiếc huy chương của một cá nhân.

Đó là sự ghi nhận dành cho cả một tập thể.

Cho Tiểu đoàn Tây Đô.

Cho những người lính đã cùng nhau giữ từng địa bàn, từng trận đánh.

Và cho những người đã gửi lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường.

“Ai cũng muốn đánh thắng để đất nước sớm hòa bình”

Có một điều đáng chú ý trong những lời kể của Nguyễn Văn Tài: ông không nói về chiến tranh bằng những ngôn từ lớn lao.

Ông chỉ nhắc đến một mong muốn rất bình dị: đánh thắng để đất nước sớm hòa bình, để bớt đi những hy sinh.

Chính sự giản dị ấy khiến câu chuyện của ông trở nên sâu sắc.

Bởi đối với một thế hệ đã đi qua chiến tranh, hòa bình không phải là một khái niệm trừu tượng.

Hòa bình là ngày người lính có thể trở về với gia đình.

Là những đứa trẻ không phải lớn lên giữa tiếng súng.

Là những người mẹ không phải chờ tin con.

Là quê hương có thể hồi sinh sau những năm tháng đầy mất mát.

Vì vậy, cái giá của hòa bình được thế hệ ấy hiểu bằng chính tuổi trẻ của mình.

Nguyễn Văn Tài cũng vậy.

Những năm tháng chiến đấu đã đi qua rất lâu, nhưng ký ức về đồng đội và những trận đánh vẫn là một phần không thể tách rời trong cuộc đời ông.

Một người Anh hùng nhìn về phía đồng đội

Có lẽ điều làm nên vẻ đẹp của một người lính không chỉ nằm ở lòng dũng cảm khi đối diện với hiểm nguy, mà còn ở cách họ nhìn nhận công lao của chính mình sau khi chiến tranh kết thúc.

Nguyễn Văn Tài được trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng ông không đặt mình ở trung tâm của câu chuyện.

Ông nhìn danh hiệu ấy như một sự tri ân đối với những người đã cùng mình chiến đấu.

Đó cũng là cách một người lính giữ lại ký ức về chiến tranh: không tô đậm chiến công của cá nhân, mà nhắc nhớ về sức mạnh của tập thể và sự hy sinh của đồng đội.

Trong những trang sử của Tiểu đoàn Tây Đô, có thể có những trận đánh được ghi lại bằng những con số. Nhưng trong ký ức của người lính, mỗi trận đánh lại được đo bằng những điều khác: ai đã đi cùng mình, ai đã trở về, ai đã ở lại.

Và vì thế, danh hiệu Anh hùng càng trở nên có ý nghĩa khi nó được nhìn từ phía những người đã hy sinh.

Giá trị còn lại sau những năm tháng chiến tranh

Chiến tranh đã lùi xa, những người lính năm xưa giờ đã ở tuổi cao. Nhưng những câu chuyện như của Anh hùng Nguyễn Văn Tài vẫn có ý nghĩa đối với các thế hệ sau.

Bởi điều thế hệ trẻ nhận được từ những câu chuyện ấy không chỉ là kiến thức lịch sử.

Đó còn là bài học về trách nhiệm.

Trách nhiệm với quê hương.

Tinh thần đồng đội.

Sự kiên định trước khó khăn.

Và trên hết là thái độ biết trân trọng những gì mình đang có.

Thế hệ hôm nay không phải sống trong hoàn cảnh chiến tranh như những người lính năm xưa. Nhưng mỗi thời đại đều đặt ra những nhiệm vụ riêng. Nếu thế hệ trước cầm súng bảo vệ Tổ quốc, thì thế hệ hôm nay có trách nhiệm xây dựng quê hương bằng tri thức, lao động, ý thức cộng đồng và khát vọng cống hiến.

Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Văn Tài, điều đáng nhớ không chỉ là một danh hiệu Anh hùng.

Đó là hình ảnh một người lính bước vào chiến tranh với suy nghĩ rất giản dị, trưởng thành qua những nhiệm vụ đầy thử thách và khi được vinh danh vẫn nhớ về đồng đội trước tiên.

Có lẽ, đó cũng là cách đẹp nhất để hiểu hai chữ vinh quang.

Bởi vinh quang của người lính không bao giờ chỉ thuộc về một người.

Nó được làm nên từ những bước chân đã đi qua chiến trường, từ những tháng năm không tiếc tuổi xuân và từ cả những người đồng đội đã gửi lại máu xương cho ngày đất nước được bình yên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn