Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG LLVT NHÂN DÂN TƯ CANG –HUYỀN THOẠI CỦA MỘT THỜI HOA LỬA

Khi nhắc đến "nhân chứng lịch sử", người ta thường nghĩ ngay đến những con người may mắn được chứng kiến các chiến tích lẫy lừng, những cột mốc khải hoàn vang dội của quân đội ta. Thế nhưng, lịch sử vốn không chỉ có màu đỏ của cờ hoa chiến thắng. Một nhân chứng lịch sử đúng nghĩa còn là người đã đi qua những góc tối khốc liệt nhất của cuộc chiến, là người ôm giữ ký ức về những mất mát đau thương và sự hy sinh đến tận cùng của một thế hệ. Và Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Tư Cang - Đại tá N

TP. Hồ Chí Minh25/06/2026Đặng Thị Thu Thảo (Tổng Công Ty Điện Lực TP.Hồ Chí Minh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đơn vị: Công Ty Lưới Điện TP.Hồ Chí Minh

ANH HÙNG LLVT NHÂN DÂN TƯ CANG –HUYỀN THOẠI CỦA MỘT THỜI HOA LỬA

Khi nhắc đến "nhân chứng lịch sử", người ta thường nghĩ ngay đến những con người may mắn được chứng kiến các chiến tích lẫy lừng, những cột mốc khải hoàn vang dội của quân đội ta. Thế nhưng, lịch sử vốn không chỉ có màu đỏ của cờ hoa chiến thắng. Một nhân chứng lịch sử đúng nghĩa còn là người đã đi qua những góc tối khốc liệt nhất của cuộc chiến, là người ôm giữ ký ức về những mất mát đau thương và sự hy sinh đến tận cùng của một thế hệ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có những người chiến đấu nơi chiến hào, nhưng cũng có những người hoạt động âm thầm giữa trung tâm đầu não của đối phương.

Để tìm hiểu về những năm tháng ấy, tôi đã có cơ hội đến gặp và phỏng vấn Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu, bí danh Tư Cang, nguyên Cụm trưởng Cụm tình báo chiến lược H.63. Ông chính là một trong những nhân chứng đặc biệt ấy – một người không chỉ đi qua hào quang chiến thắng mà còn mang nặng trên vai những vết sẹo mất mát của lịch sử giữa lòng Sài Gòn hoa lệ.

Nhiều năm sau ngày đất nước thống nhất, ngồi trò chuyện cùng tôi, khi nhắc lại quãng thời gian hoạt động tình báo tại Sài Gòn, ông vẫn nhớ rõ từng con đường, từng địa điểm liên lạc và những lần đối mặt với nguy hiểm chỉ cách nhau trong gang tấc.

Trở lại miền Nam giữa lúc chiến tranh leo thang

Trong cuộc phỏng vấn, ông kể lại rằng năm 1961, sau hơn 100 ngày vượt dãy Trường Sơn từ miền Bắc vào Nam, Nguyễn Văn Tàu được giao nhiệm vụ xây dựng và chỉ huy Cụm tình báo chiến lược H63. Căn cứ ban đầu của cụm được đặt mật bục tại vùng tam giác sắt liên hoàn Địa đạo Củ Chi – Bến Cát – Dầu Tiếng.

Về sự kiên cường của quân và dân ta khi bám trụ tại vùng đất thép này, ông Tư Cang khẽ đọc lại đoạn thơ nổi tiếng do ông tự sáng tác để ca ngợi:

"Cỏ cây chết, đất đá trụi nhưng con người không lay chuyển."

Những năm sau đó, đặc biệt từ năm 1965, khi quân đội Mỹ đổ bộ ồ ạt vào miền Nam, Sài Gòn trở thành trung tâm quân sự và chính trị quan trọng nhất của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Các nguồn tin từ nội đô vì thế có ý nghĩa đặc biệt đối với cách mạng.

Nhiệm vụ của Tư Cang là tổ chức mạng lưới cơ sở bí mật, duy trì liên lạc với các điệp viên chiến lược và đưa những thông tin quan trọng ra căn cứ.

Một buổi sáng trên đường Công Lý

Ông Tư Cang kể rằng mỗi lần vào Sài Gòn là một lần đối mặt với nguy hiểm. Về tinh thần thép của người làm tình báo, ông chia sẻ tâm niệm sâu sắc khi bước vào chiến trường, thể hiện lòng quả cảm và sự hiến dâng trọn vẹn cho nhiệm vụ:

"Làm tình báo là xác định khắc ghi 4 chữ: 'Coi như chết rồi'."

Câu nói này được ông tự khắc lên ngực mình, thể hiện sự giác ngộ và lòng dũng cảm chấp nhận hy sinh từ thời điểm bắt đầu bước vào lòng địch.

Ông nhớ lại một buổi sáng giữa những năm 1960, ông mặc bộ vest chỉnh tề, đi giày da, ngồi trên chiếc xe hơi hiệu Peugeot bóng loáng chạy từ hướng Dầu Tiếng xuống Sài Gòn. Nhìn bề ngoài, ông giống một chủ đồn điền cao su hoặc một doanh nhân khá giả đang đi làm ăn.

Chiếc xe chạy qua nhiều trạm kiểm soát gắt gao dọc Quốc lộ 22 và cửa ngõ nội đô. Binh lính chỉ nhìn lướt qua giấy tờ mang tên giả do đường dây tình báo ngụy tạo rồi cho đi. Không ai biết người đàn ông ngồi trong xe chính là người chỉ huy một mạng lưới tình báo chiến lược của cách mạng.

Điểm đến hôm ấy là một địa điểm hẹn trong nội đô, ngay trên trục đường Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Ông phải gặp một đầu mối quan trọng để nhận tài liệu. Thời gian gặp chỉ tính bằng phút. Không được đến sớm. Không được đến muộn. Không được để người khác chú ý. Chỉ cần một sai sót nhỏ, cả mạng lưới có thể bị lộ.

Làm tình báo giữa lòng địch, lanh lợi thôi chưa đủ, phải có một cái đầu lạnh và một trái tim cực kỳ ấm áp để đồng đội tin tưởng nhau vô điều kiện. Về nghệ thuật hoạt động bí mật, ông đúc kết kinh nghiệm: "Tình báo phải dựa vào dân", nhờ vậy mà ông đã "vào sinh ra tử nhưng chưa một lần đứt đường dây". Nhờ sự mưu trí của ông, hàng loạt tài liệu mang tính chiến lược quyết định cục diện chiến trường đã được vận chuyển trót lọt.

Những cuộc gặp với Phạm Xuân Ẩn

Khi tôi hỏi về mối quan hệ với các đồng đội, ông cho biết trong những năm chiến tranh, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Tư Cang là duy trì liên lạc với nhà tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn.

Phạm Xuân Ẩn khi đó mang vỏ bọc phóng viên của tạp chí Time, thường xuyên xuất hiện trong các cuộc họp báo và các sự kiện của chính quyền Sài Gòn. Nhận xét về phẩm chất của người cộng sự (điệp viên huyền thoại Phạm Xuân Ẩn), ông Tư Cang khẳng định:

"Anh Ẩn đi vào hàng ngũ địch nhưng vẫn giữ vẹn nguyên phẩm chất của người cộng sản kiên trung."

Theo lời kể của Tư Cang, mỗi lần gặp nhau đều được chuẩn bị kỹ lưỡng. Có khi địa điểm là một quán cà phê đông người phức tạp như quán Givral (đối diện Hạ nghị viện Sài Gòn xưa) hay Continental. Có khi là một ngôi nhà bình thường trong thành phố, hoặc điểm hẹn bí mật tại chợ cũ lồng đèn trên đường Nguyễn Huệ.

Nói về tính chất của các buổi gặp này, cuộc trò chuyện như cô đọng lại qua lời kể: Những cuộc gặp giữa Tư Cang và Phạm Xuân Ẩn tại quán Givral hay Continental không có những cái ôm siết chặt của tình đồng chí. Họ ngồi đó, giữa máy nghe lén của mật vụ và ánh mắt soi mối của phóng viên quốc tế, sắm vai những kẻ xa lạ tình cờ lướt qua nhau. Tài liệu chuyển đi trong một cái chạm tay vô tình, một cái liếc mắt thay cho vạn lời nói. Họ là hai con người cô độc nhất giữa lòng Sài Gòn, tự chôn giấu thân phận thật của mình vào bóng tối để cùng hướng về một ánh sáng duy nhất: Ngày độc lập. Họ là hai đỉnh cao của tình báo, nhưng không thể tay bắt mặt mừng như những người bạn thông thường.

Hai người gặp nhau rất nhanh. Tài liệu được trao đổi kín đáo. Không có những cuộc trò chuyện dài. Không có thời gian hỏi han. Sau vài phút, mỗi người lại đi theo một hướng khác nhau như chưa từng quen biết.

Nhưng từ những cuộc gặp ngắn ngủi ấy, nhiều thông tin chiến lược quan trọng đã được chuyển ra căn cứ một cách an toàn tuyệt đối.

Giữa làn bom đạn và những quyết định sinh tử trực diện

Không chỉ ngồi trong bóng tối chỉ huy, cuộc đời binh nghiệp của chú Tư Cang còn là những trang sử can trường trên trận tuyến trực diện đầy máu và lửa. Lịch sử ghi dấu ấn của ông qua những cột mốc chói lọi, nơi ranh giới giữa cái chết và sự sống chỉ tính bằng tích tắc.

Ông kể tiếp, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân vào đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết năm 1968 (ngày 31/1/1968), Tư Cang trực tiếp vào nội đô, tham gia cùng Ban Chỉ huy Tiền phương II, sát cánh chỉ huy mũi tiến công của Đội Biệt động Sài Gòn đánh chiếm Dinh Độc Lập. Giữa làn mưa bom bão đạn của kẻ thù tại giao lộ Nguyễn Du – Thủ Khoa Huân, người chỉ huy ấy vẫn kiên cường giữ vững ý chí cho đồng đội, trực tiếp đối đầu với những đợt phản kích điên cuồng của bộ binh và xe bọc thép địch.

Những căn nhà không có tên trên bản đồ

Nhắc đến những năm tháng hoạt động bí mật, Tư Cang thường dành sự kính trọng đặc biệt cho các cơ sở cách mạng. Về sức mạnh và chỗ dựa của người chiến sĩ, ông đã đưa ra đúc kết sâu sắc với tôi sau chuyến khảo sát hoạt động tại Sài Gòn năm xưa:

"Ở trên thì rừng cây, công sự che chở chúng ta, còn vào thành phố thì quần chúng Nhân dân nuôi nấng, bảo vệ chúng ta."

Ông kể rằng có những gia đình – tiêu biểu như ngôi nhà của vợ chồng đồng chí Tám Thảo (Mỹ Nhung) ở số 287/70 đường Trần Nhân Tôn hay các hộp thư bí mật tại vùng An Nhơn (Gò Vấp) – ban ngày vẫn buôn bán, sinh hoạt bình thường như bao người dân khác. Nhưng đêm xuống, căn nhà nhỏ ấy lại trở thành nơi cất giữ tài liệu, nơi gặp gỡ cán bộ hoặc nơi trú ẩn của lực lượng tình báo.

Có lần, sau khi hoàn thành việc liên lạc, Tư Cang vừa rời khỏi cơ sở thì lực lượng đối phương bất ngờ xuất hiện kiểm tra khu vực. Những người trong nhà vẫn bình tĩnh ứng xử như không có chuyện gì xảy ra. Nhờ vậy, cơ sở được bảo toàn. Mạng lưới tiếp tục hoạt động.

Ông nhiều lần nhắc với tôi rằng thành công của H63 không chỉ nhờ những người làm tình báo, mà còn nhờ sự hy sinh thầm lặng của rất nhiều người dân yêu nước.

Những người đồng đội không trở về

Chiến thắng của một mạng lưới tình báo không được đo bằng số lượng kẻ địch bị tiêu diệt, mà được đánh đổi bằng sự im lặng đến nghẹt thở của những người ngã xuống. Trong ký ức của Tư Cang, điều khiến ông day dứt nhất suốt cả cuộc đời là những đồng đội đã không bao giờ còn có thể trở về.

Có người bị bắt khi đang làm nhiệm vụ trên đường dây giao liên từ Sài Gòn ra vùng căn cứ hố Bò. Có người bị tra tấn dã man, thân xác chịu muôn vàn cực hình trong các nhà tù khét tiếng như Chí Hòa, Côn Đảo nhưng đến hơi thở cuối cùng vẫn giữ bí mật cho tổ chức. Có cơ sở bị địch phát hiện nhưng không một ai khai báo, họ đổi sự sống của chính mình lấy sự im lặng tuyệt đối cho tổ chức.

Mỗi mất mát đều để lại trong ông những ký ức không thể quên. Ông chia sẻ rằng bản thân mình còn sống đến ngày đất nước thống nhất là nhờ sự che chở của nhân dân và chính sự hy sinh, gánh chịu đòn roi thay cho ông của biết bao đồng đội.

Mùa xuân năm 1975

Tháng 4 năm 1975, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, Tư Cang chứng kiến thời khắc lịch sử mà ông đã chờ đợi suốt nhiều năm hoạt động bí mật.

Lúc này, với cương vị là Chính ủy Lữ đoàn Đặc công biệt động 316, vào đêm ngày 27 rạng sáng ngày 28/4/1975, ông trực tiếp chỉ huy cánh quân đánh chiếm và bảo vệ cầu Sài Gòn (khi đó gọi là cầu Tân Cảng). Nhiệm vụ tối thượng lúc đó là phải giữ cho bằng được cây cầu huyết mạch vẹn nguyên để đại quân của Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng thành phố, ngăn chặn âm mưu đánh sập cầu của địch. Ông và các đồng đội đã làm được điều đó bằng cả máu và nước mắt ngay trước thềm chiến thắng.

Trưa ngày 30/4/1975, lần trở lại nội đô Sài Gòn ấy hoàn toàn khác trước.

Không còn phải dùng bí danh. Không còn phải thay đổi vỏ bọc. Không còn những cuộc hẹn trong bí mật. Sau nhiều năm chiến đấu âm thầm, ông được chứng kiến ngày đất nước thống nhất.

Trưa ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn ngập tràn cờ hoa rực rỡ, Đại tá Tư Cang không chọn ở lại để tận hưởng ánh hào quang của một vị lữ đoàn trưởng chiến thắng. Ông lao ngay về quê nhà Bà Rịa – Vũng Tàu. Ở đó, có người vợ tào khang đã hóa đá chờ chồng suốt hàng chục năm ròng rã. Cuộc gặp gỡ ấy không có lời thoại, chỉ có giọt nước mắt nghẹn ngào của ngày đoàn tụ. Người anh hùng có 'tinh thần thép' từng đi qua trăm trận tuyến, từng tự khắc vào ngực mình bốn chữ 'Coi như chết rồi', cuối cùng đã khóc như một đứa trẻ trước người vợ của mình. Đó là câu trả lời nhân văn nhất cho câu hỏi: Chúng ta chiến đấu vì điều gì? Chính là vì những cuộc đoàn tụ thiêng liêng như thế.

Đặc biệt, ngày 30/4 lịch sử đó cũng là ngày ông nghẹn ngào nước mắt gặp lại người vợ tào khang – bà Trần Ngọc Ảnh tại quê nhà Bà Rịa – Vũng Tàu sau hàng chục năm trời xa cách vì nhiệm vụ thiêng liêng với Tổ quốc.

Trái tim nhân văn và người kể chuyện của một thời hoa lửa

Hòa bình lập lại, rời xa ánh hào quang của một vị anh hùng, chú Tư Cang trở về với cuộc sống đời thường bình dị tại căn nhà nhỏ ở Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh – nơi tôi đang được ngồi phỏng vấn ông hôm nay. Người ta thấy một ông lão tóc bạc phơ, nụ cười hiền hậu, miệt mài viết sách để lưu lại ký ức cho mai sau. Những tác phẩm như "Vào Sài Gòn", "Nước mắt ngày gặp mặt"... không hoa mỹ nhưng đầy chân thực, như thước phim quay chậm về một thời hoa lửa.

Điều khiến tôi cảm phục nhất ở ông chính là sự bao dung. Khi kể về những người ở bên kia chiến tuyến, ông không dùng sự hận thù để phán xét, mà nhìn bằng con mắt của một người đã thấu suốt nỗi đau xé lòng của chiến tranh. Ông trân trọng hòa bình vì hiểu cái giá của nó được đổi bằng xương máu. Hòa bình hôm nay không được dệt bằng những khẩu hiệu, nó được đúc bằng những vết sẹo chưa bao giờ lành trên da thịt của một thế hệ.

Nhìn ngắm người lính già ở tuổi xế chiều, tôi hiểu rằng trách nhiệm với thế hệ tương lai vẫn luôn đau đáu trong lòng ông. Nhớ về những lần ông thực hiện quyền công dân sau này, tôi thầm nghĩ: Lá phiếu trong tay đại tá Tư Cang sau 80 năm vẫn ấm như ngày đầu tiên. Nó không chỉ kể câu chuyện về lòng yêu nước bền bỉ của một người lính... mà còn là lời nhắc nhở lặng lẽ để thế hệ trẻ hôm nay sống sao cho xứng đáng với lớp người đã làm nên độc lập của đất nước.

Ngày nay, khi nhắc đến Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu – Tư Cang, người ta nhớ đến một nhà tình báo xuất sắc. Nhưng qua những câu chuyện ông trực tiếp kể lại trong cuộc phỏng vấn này, điều đọng lại sâu sắc hơn cả là hình ảnh của một con người đã trực tiếp sống giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, chứng kiến cả vinh quang của chiến thắng lẫn nỗi đau thắt lòng khi đồng đội ngã xuống, sự đùm bọc của nhân dân và những cuộc đấu trí âm thầm giữa lòng Sài Gòn.

Những ký ức ấy không chỉ là câu chuyện của riêng Tư Cang. Đó còn là những lát cắt chân thực về một giai đoạn lịch sử hào hùng nhưng cũng đầy bi tráng của dân tộc, được kể lại bởi một người đã trực tiếp sống và chiến đấu trong lòng địch suốt nhiều năm. Cuộc đối thoại ngắn ngủi với ông mãi là ngọn lửa sưởi ấm, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về lòng biết ơn và trách nhiệm gìn giữ nền hòa bình vô giá này.

Nguồn tham khảo:

  • Nội dung phỏng vấn trực tiếp và Hồi ký của Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang).

  • Báo Quân đội Nhân dân: Nhà tình báo Tư Cang và những lần vô – ra Sài Gòn.

  • Báo Nhân Dân: Anh hùng tình báo Tư Cang – Chuyện bao lần thoát hiểm trong gang tấc.

  • Tài liệu về Cụm tình báo chiến lược H63.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn