Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG LLVTND (135)

Đồng Tháp04/07/2026Ban chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tân Đông (Ban chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Tân Đông)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

ANH HÙNG LIỆT SĨ WỪU – NGƯỜI CON KIÊN CƯỜNG CỦA NÚI RỪNG TÂY NGUYÊN

Giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, nơi những cánh rừng bạt ngàn đã chứng kiến biết bao cuộc chiến giữ làng, giữ nước, có một người con dân tộc Bahnar đã trở thành biểu tượng của lòng quả cảm và ý chí bất khuất. Đó là Anh hùng liệt sĩ Wừu (còn gọi là Bok Wừu), người đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của dân tộc.

Ông sinh năm 1905 trong một gia đình nghèo ở làng Đê Đoa, khi ấy thuộc tỉnh Pleiku Der của chính quyền thực dân, nay là xã Đắk Sơ Mei, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai. Từ thuở nhỏ, Wừu đã lớn lên trong cảnh đồng bào Bahnar bị thực dân Pháp á.p b.ứ.c, b.ó.c l.ộ.t, c.ư.ớ.p đất, b.ắ.t phu, bắt lính. Những nỗi đau ấy đã sớm hun đúc trong ông lòng căm thù giặc và khát vọng giải phóng quê hương.

Năm 1939, khi những cán bộ cách mạng đầu tiên vượt núi lên Tây Nguyên xây dựng cơ sở, Wừu nhanh chóng tiếp nhận tư tưởng cách mạng và trở thành một trong những hạt nhân đầu tiên của phong trào đấu tranh tại địa phương. Ông đứng ra vận động đồng bào chống bắt phu, chống bắt lính, khơi dậy tinh thần đoàn kết của người Bahnar. Chính bầu không khí đấu tranh sôi nổi ấy sau này đã được nhà văn Nguyên Ngọc tái hiện trong tác phẩm nổi tiếng "Đất nước đứng lên", phản ánh khí phách quật cường của đồng bào Tây Nguyên trong những năm đầu kháng chiến.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tích cực tham gia xây dựng chính quyền cách mạng tại địa phương. Đến tháng 6 năm 1946, khi thực dân Pháp quay trở lại tái chiếm Tây Nguyên, lực lượng chủ lực của ta phải tập trung cho nhiều chiến trường khác, Wừu chủ động rút vào hoạt động bí mật. Suốt nhiều năm liền, ông lặng lẽ băng rừng, vượt suối, đến từng ngôi nhà, từng rẫy bắp để tuyên truyền, giữ vững niềm tin của đồng bào Bahnar đối với cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đầu năm 1949, khi đội tuyên truyền vũ trang của ta bắt liên lạc trở lại với địa phương, Wừu trở thành người dẫn đường, xây dựng cơ sở, tổ chức tiếp tế lương thực và phát triển lực lượng du kích. Dưới sự chỉ huy của ông, nhiều làng Bahnar đã biến núi rừng thành những pháo đài tự nhiên với hầm chông, bẫy đá và nhiều trận địa bí mật. Ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận phục kích, khiến quân Pháp liên tiếp thiệt hại và luôn sống trong nỗi ám ảnh mỗi khi tiến vào vùng Đắk Đoa.

Sự gan dạ và tài tổ chức của Wừu khiến thực dân Pháp xem ông là một trong những người nguy hiểm nhất ở Tây Nguyên. Chúng treo thưởng rất lớn, hứa cấp bạc và muối cho bất cứ ai chỉ điểm. Thế nhưng không một người dân nào phản bội ông. Đồng bào Bahnar đã che chở, bảo vệ người thủ lĩnh của mình bằng cả tính mạng.

Trong những năm chiến đấu, Wừu hai lần bị địch bắt nhưng đều trốn thoát đầy ngoạn mục. Tháng 12 năm 1950, khi bị áp giải về Kon Tum, ông lợi dụng lúc xe giảm tốc độ để bất ngờ lao xuống vực cây rừng rồi biến mất giữa đại ngàn. Tháng 1 năm 1951, ông tiếp tục bị bắt trong một cuộc họp du kích. Dù bị t.r.a t.ấ.n d.ã m.a.n, ông vẫn kiên quyết không khai báo. Khi bị chuyển nơi giam giữ, ông lại tìm cách vượt ngục thành công và trở về căn cứ tiếp tục chiến đấu.

Cũng trong năm 1950, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, được giao giữ chức Chủ tịch xã kiêm Xã đội trưởng, trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang tại khu vực Nam - Bắc Đắk Đoa.

Tháng 4 năm 1952, trong một cuộc càn quét lớn vào căn cứ Pledekel, do có kẻ phản bội chỉ điểm, Wừu bị bắt lần thứ ba. Lần này, quân Pháp quyết tâm khuất phục người thủ lĩnh Bahnar. Chúng dùng xích sắt t.r.ó.i chặt, t.r.a t.ấ.n ông suốt nhiều ngày đêm nhưng chỉ nhận lại sự im lặng đầy khinh bỉ.

Để uy hiếp tinh thần nhân dân, chúng giải ông về ngay giữa làng Đê Đoa và ép dân làng đến chứng kiến. Trước mặt vợ con và đồng bào, Wừu dõng dạc nói bằng tiếng Bahnar:

"Tôi sẵn sàng chết để dân làng và vợ con tôi được sống. Tôi không bao giờ phản bội dân làng, không bao giờ đầu hàng giặc. Hãy đoàn kết đánh đuổi quân cướp nước!"

Điên cuồng vì không khuất phục được ý chí của người chiến sĩ cách mạng, quân Pháp đã t.r.a t.ấ.n ông bằng những cực hình vô cùng d.ã m.a.n như c.ắ.t tai, c.ắ.t mũi, c.h.ặ/t từng đầu ngón tay. M.á.u nhuộm đỏ mảnh đất quê hương, nhưng ông vẫn không hé lộ một bí mật nào của cách mạng.

Biết mình khó có thể sống sót, Wừu quyết định thực hiện hành động cuối cùng để tiêu diệt kẻ thù. Ông giả vờ khuất phục và nhận lời dẫn quân Pháp vào căn cứ cách mạng Kam Krin. Tin rằng đã khuất phục được người anh hùng Bahnar, hàng trăm lính Pháp nối nhau tiến theo ông giữa núi rừng.

Nhưng đó chính là cái bẫy mà Wừu đã lựa chọn bằng chính sinh mạng của mình. Ông dẫn toàn bộ đội hình địch tiến vào khu vực hầm chông, bãi mìn và trận địa phục kích của du kích. Tiếng nổ vang lên giữa núi rừng, nhiều tên lính Pháp bị tiêu diệt và thương vong nặng nề.

Khi nhận ra bị đánh lừa, quân Pháp đ.i.ê.n cuồng trả thù. Chúng dùng lưỡi lê khoét mắt ông, rồi bắn nhiều phát đ.ạ.n vào thân thể người chiến sĩ kiên trung trước khi vứt t.h.i t.h.ể xuống một con suối gần đó.

Đêm hôm ấy, dân làng Đê Đoa mang đuốc đi khắp núi rừng tìm thi hài người anh hùng. Tiếng khóc thương hòa cùng lời thề tiếp tục chiến đấu vang vọng giữa đại ngàn. Sự hy sinh của Wừu không làm đồng bào khiếp sợ, mà trái lại càng thổi bùng ngọn lửa kháng chiến. Làng Đê Đoa tiếp tục trở thành căn cứ vững chắc, che chở bộ đội trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Để ghi nhận những cống hiến và sự hy sinh đặc biệt anh dũng ấy, ngày 7 tháng 5 năm 1956, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì cho liệt sĩ Wừu.

Tên tuổi của ông mãi mãi được nhân dân Tây Nguyên và cả dân tộc Việt Nam ghi nhớ như biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí bất khuất và tinh thần quyết tử vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn