Anh hùng LLVTND, Đại tá Âu Văn Hùng
Quê gốc tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, chàng thanh niên Âu Văn Hùng nhập ngũ từ năm 1965. Khi đó, anh vẫn là học sinh trường bổ túc công nông và đúng đợt gọi tuyển quân vào lực lượng phòng không không quân. Trải qua nhiều vòng tuyển chọn và huấn luyện, Âu Văn Hùng được dự khóa học bay của Quân chủng Phòng không – không quân.
Tới tháng 9-1966, ông được cử sang Liên Xô dự khóa học bay với máy bay L-39. Do trong nước, cuộc chiến tranh của Mỹ gây ra đang trong giai đoạn ác liệt, phi công Âu Văn Hùng cùng với các đồng đội phải học tiếng Nga cấp tốc trong khoảng 3 tháng để có thể hiểu được ngôn ngữ cơ bản.
Cảm giác lần đầu tiên được ngồi trong buồng lái để lái chiếc máy bay của ông dường như rất khó tả. Khi cất cánh lên, cả một đường chân trời hiện ra với khung cảnh thật kì vĩ giữa trời và đất mà chỉ có bay lên cao mới cảm nhận được.
Trong hai năm 1968 và 1969, ông được học các kĩ năng lái máy bay Mig-17, một loại máy bay chiến đấu có tốc độ và khả năng tác chiến cao hơn loại máy bay L-39. Phải mất khoảng nửa năm ông mới học xong lý thuyết để có thể lái được chiếc Mig-17. Quá trình học bay và huấn luyện rất kĩ càng và gian nan với những bài bay phức tạp, đòi hỏi phi công phải có thể lực tốt và tinh thần thép trong mỗi chuyến bay.
Tháng 10-1969, phi công Âu Văn Hùng hoàn thành khóa học và từ Liên Xô bay trở về nước. Ông được biên chế vào Trung đoàn không quân 923, Binh chủng Không quân và đóng quân ở sân bay Kép (Bắc Giang). Tại đây, ông tiếp tục được huấn luyện và cuối năm 1970 vào trực ban chiến đấu.
Năm 1975, ông được biên chế vào Trung đoàn không quân 927 thuộc Sư đoàn không quân 372 và tiếp tục được huấn luyện bay với loại máy bay Su-22 và máy bay A-37.
Trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ và bảo vệ biên giới phía Tây Nam của đất nước, phi công Âu Văn Hùng đã xuất kích 50 lần và có 45 lần đánh trúng nhiều điểm mục tiêu. Mỗi lần nhận nhiệm vụ từ chỉ huy, ông luôn nêu cao quyết tâm chiến đấu và chiến thắng nên một khi đã lên buồng lái, trong tim mình chỉ có hai chữ “Tổ quốc” mà thôi. Dù có có thể sẽ hi sinh cũng không chùn bước.
Nhờ tích cực rèn luyện, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật mà đồng chí đã lái giỏi các loại máy bay phản lực MIC 17, A37. Trong 45 lần bay thử máy bay phục hồi, đồng chí đều bảo đảm an toàn tuyệt đối. Với đức tính cần cù, chịu khó, ham học hỏi đồng chí luôn được anh em cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị tin yêu, quý trọng. Ngày 20-12-1979, đồng chí đã được Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng danh hiệu cao quý "Anh hùng lực vũ trang nhân dân".



