Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG LLVTND: Hoàng Cầm

AHLLVTND Thượng tướng Hoàng Cầm (tên khai sinh: Đỗ Văn Cầm), sinh ngày 30 tháng 4 năm 1920 tại xã Sơn Công (nay là xã Cao Sơn Tiến), huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP. Hà Nội). Năm 21 tuổi (1941), ông đi lính khố xanh cho Pháp, đồn trú ở Lai Châu, sau chuyển về Hà Nội và đào ngũ trước đảo chính Nhật (9/3/1945). Tháng 7/1945, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội, rồi Cứu quốc quân trong Cách mạng Tháng Tám, lấy bí danh Hoàng Cầm.

Cần Thơ23/01/2026Đoàn xã Thới An Hội (Đoàn xã Thới An Hội)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

AHLLVTND Thượng tướng Hoàng Cầm (tên khai sinh: Đỗ Văn Cầm), sinh ngày 30 tháng 4 năm 1920 tại xã Sơn Công (nay là xã Cao Sơn Tiến), huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP. Hà Nội). Năm 21 tuổi (1941), ông đi lính khố xanh cho Pháp, đồn trú ở Lai Châu, sau chuyển về Hà Nội và đào ngũ trước đảo chính Nhật (9/3/1945). Tháng 7/1945, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội, rồi Cứu quốc quân trong Cách mạng Tháng Tám, lấy bí danh Hoàng Cầm. Ông nhập ngũ tháng 8/1945, kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 2/1947 (mù chữ, không học hành chính quy).

Sự nghiệp quân sự

Ông gắn bó với Quân đội Nhân dân Việt Nam từ 1945 đến 1992, thăng tiến từ chiến sĩ lên Thượng tướng (phong 1984), chỉ huy nhiều trận đánh lớn:

Kháng chiến chống Pháp (1945-1954): Tiểu đội trưởng Trung đoàn 97; Đại đội trưởng Đại đội 120 Sơn La; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 130 Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312). Tham gia Chiến dịch Biên giới 1950 (trận Đông Khê). Đặc biệt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954: Chỉ huy đánh chiếm cứ điểm 507, 508, 509; ra lệnh Đại đội 360 đánh Sở chỉ huy Mường Thanh, bắt sống tướng De Castries và Bộ chỉ huy Pháp (6/5/1954).

Sau 1954: Đại đoàn/Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312 (1954-1963); Thượng tá (1958), Đại tá (1960). Học viện Quân sự Bắc Kinh (1960-1961).

Kháng chiến chống Mỹ (1964-1975): Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 (Quân Giải phóng miền Nam); Phái viên Tác chiến Bộ chỉ huy Miền; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam (dưới Trần Văn Trà). Tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972. Tư lệnh Quân đoàn 4 (thành lập 1974): Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, mở "cánh cửa thép" Xuân Lộc, hỗ trợ Quân đoàn 2 tiến vào Sài Gòn, tiếp quản Dinh Độc Lập.d097045dff21

Sau 1975: Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân đoàn 4 (1977-1981); Phó Tư lệnh Bộ đội Việt Nam tại Campuchia (1981-1982). Chỉ huy Quân đoàn 4 đánh Pol Pot (1978), có mặt đầu tiên tại Phnom Penh. Tư lệnh Quân khu 4 (1982-1987); Tổng Thanh tra Quân đội (1987-1992). Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980).

Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV-VI, Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Vị tướng khiêm tốn, giản dị, cương trực: Không khoe chiến công (như bắt De Castries), sống như nông dân, quan tâm cán bộ trẻ, đoàn kết đơn vị. Sống trong biệt thự nhưng dạy con hòa đồng láng giềng.

Huân chương và di sản

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (truy tặng 2022).

Huân chương Hồ Chí Minh, Quân công hạng Nhất, Chiến thắng hạng Nhất, Kháng chiến hạng Nhất, v.v. Tên ông đặt cho Quốc lộ 1K (TP.HCM).

Ông mất ngày 19/8/2013 (93 tuổi) tại Bệnh viện Quân y 175 (TP.HCM), an táng Nghĩa trang TP.HCM.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn