Anh hùng LLVTND Ngô Văn Rạnh
Đại đội bậc phó, trợ lý công binh thuộc đoàn 149, Cục hậu cần Miền. Trong 6 năm, ông và đồng đội đã mở được 29 con đường rừng dài gần 200 km, bắc 55 cầu to, nhỏ phục vụ chiến đấu, bảo đảm vận chuyển hàng hóa và thương binh.
ANH HÙNG NGÔ VĂN RẠNH
Đồng chí Ngô Văn Rạnh, sinh năm 1922, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nhập ngũ tháng 3 năm 1956. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội bậc phó, trợ lý công binh thuộc đoàn 149, Cục hậu cần Miền, đảng viên Đảng Cộng sản ViệtNam.Đồng chí Ngô Văn Rạnh là một cán bộ tích cực hoạt động từ những năm đầu xây dựng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ.Trong những năm đầu có rất nhiều khó khăn, gian khổ, đồng chí kiên trì, lăn lộn nhiều năm ròng rã trong rừng lao động, công tác phục vụ cách mạng. Sáu năm phụ trách một tổ công binh mở đường, bắc cầu phục vụ việc vận chuyển, đồng chí có nhiều sáng tạo, chỉ huy đồng đội hoàn thành xuất sấc nhiệm vụ, mở được 29 con đường rừng dài gần 200 ki-lô-mét, bắc 55 cầu to, nhỏ.Tháng 11 năm 1955, Ngô Văn Rạnh bị địch bắt vào quân đội Cao Đài và bị mất liên lạc với cơ sở của ta. Được bọn địch giao cho giữ một số vũ khí, Ngô Văn Rạnh đã đem vũ khí vào rừng cất giấu cho ta. Đồng chí còn vừa tìm cách bắt liên lạc với cơ sở cách mạng, vừa vận động anh em binh lính Cao Đài làm binh biến. Khi thời cơ đến, đồng chí cùng anh em bắt trói bọn chỉ huy địch, thu vũ khí, trở về hàng ngũ tiếp tục hoạt động. Năm 1956, Ngô Văn Rạnh được phân công ở lại trong rừng giữ kho súng. Suốt 5 tháng ở rừng, không có gạo, đồng chí phải tự lao động: lượm vỏ chai, làm cây gió... đổi lấy gạo ăn. Tuy vậy, đồng chí vẫn kiên trì và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Năm 1960, Ngô Văn Rạnh được phân công đi làm kho chứa lúa. Tổ chỉ có 7 người, nguyên vật liệu chưa có, đồng chí động viên anh em khắc phục khó khăn, đi xa chặt tre, lấy tranh về làm được ba nhà kho chứa sáu ngàn giạ lúa, bảo đảm tránh được hao hụt, mất mát. Năm 1962, Ngô Văn Rạnh được phân công cùng 5 người khác đi làm cầu đường với một cái khoan, mấy con dao rựa và một cái cưa. Yêu cầu thì khẩn trương, bức thiết, mọi người đều chưa quen với công việc này, khi làm thì nước lũ lại tràn về. Ngô Văn Rạnh đã bàn bạc với anh em, động viên lẫn nhau, chung sức vượt qua khó khăn, hoàn thành bằng xong nhiệm vụ được giao. Vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, phát huy nhiều sáng kiến, chỉ trong 10 ngày đêm, tổ của đồng chí đã hoàn thành bắc xong cầu dài 43 mét. Khi chuẩn bị cho chiến dịch Đường số 13, Ngô Văn Rạnh được giao phụ trách một bộ phận đi làm đường. Công việc nặng nhọc, phức tạp, ăn uống thiếu thốn, nhưng đồng chí không hề nản lòng. Trong khi mở đường, đồng chí thường tìm cách mở những đoạn đường gần nhất, hoặc tránh những chỗ trống để bảo đảm bí mật, mặc dù làm như vậy bản thân và đội công binh sẽ phải chịu những khó khăn tăng lên gấp bội. Ngô Văn Rạnh luôn luôn đặt yêu cầu làm đường phải bảo đảm vận chuyển hàng hóa và thương binh đi được dễ dàng, nhanh chóng và an toàn. Qua một thời gian, đồng chí đã cùng đồng đội mở được những con đường rừng dài gần 200 ki-lô-mét, phục vụ kịp thời yêu cầu chiến đấu. Ngô Văn Rạnh luôn luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, gương mẫu trong mọi mặt công tác, đồng chí còn chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đơn vị, thương yêu, tận tình giúp đỡ anh em, sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội tin yêu, mến phục. Ngô Văn Rạnh đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 5 bằng khen và giấy khen, 5 năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Ngô Văn Rạnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



