Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Định
o Nguyễn Thị Định sinh ra trong một gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Bà giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng từ năm 16 tuổi (1936) trong phong trào Đông Dương Đại hội. Năm 1940, bà bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Bà Rá khi mới sinh con nhỏ, chồng bà cũng bị đày ra Côn Đảo và hy sinh tại đó. Vượt qua nỗi đau thương gia đình, sau khi ra tù, bà lập tức bắt liên lạc với tổ chức và tham gia lãnh đạo giành chính quyền thắng lợi tại tỉnh Bến Tre trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
· Họ và tên: Nguyễn Thị Định (thường gọi là cô Ba Định)
· Năm sinh: 1920 (Mất năm 1992)
· Quê quán: Xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
· Quá trình tham gia cách mạng:
o Nguyễn Thị Định sinh ra trong một gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Bà giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng từ năm 16 tuổi (1936) trong phong trào Đông Dương Đại hội. Năm 1940, bà bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Bà Rá khi mới sinh con nhỏ, chồng bà cũng bị đày ra Côn Đảo và hy sinh tại đó. Vượt qua nỗi đau thương gia đình, sau khi ra tù, bà lập tức bắt liên lạc với tổ chức và tham gia lãnh đạo giành chính quyền thắng lợi tại tỉnh Bến Tre trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
o Năm 1946, trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Thị Định là thành viên chủ chốt của đoàn đại biểu miền Nam vượt biển ra Bắc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ để báo cáo tình hình chiến sự Nam Bộ, đồng thời nhận nhiệm vụ vận chuyển chuyến hàng vũ khí chi viện đầu tiên từ Bắc vào Nam bằng đường biển. Chuyến đi lịch sử đầy mạo hiểm hiểm nguy đó của bà đã đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành của "Đường Hồ Chí Minh trên biển" huyền thoại sau này. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, bà giữ chức Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, lãnh đạo phong trào chiến tranh du kích địa phương.
o Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, tên tuổi của Nguyễn Thị Định gắn liền với cao trào Phong trào Đồng Khởi năm 1960 tại Bến Tre. Dưới sự chỉ đạo của bà, nhân dân ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) đã đồng loạt nổi dậy, dùng vũ khí thô sơ đánh đồn, diệt ác ôn, đập tan bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền địa phương. Từ phong trào này, bà đã có sáng kiến độc đáo thành lập "Đội quân tóc dài" – lực lượng đấu tranh trực diện của hàng vạn phụ nữ miền Nam bằng phương pháp chính trị kết hợp vũ trang, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, làm rung chuyển chế độ Mỹ - ngụy.
o Năm 1965, với tài năng chỉ huy và uy tín lớn mến mộ, bà được Bộ Chính trị bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tổng Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, trở thành người phụ nữ duy nhất nắm giữ chức vụ chỉ huy quân sự tối cao bấy giờ. Năm 1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà mất năm 1992, cuộc đời bà là biểu tượng vĩ đại cho tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".
· Đạt danh hiệu năm: 1995 (Được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân).



