Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng LLVTND, Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo

Đồng chí Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1921, con ông Tạ Quang Khai và bà Nguyễn Thị Tành làm nghề thợ may tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (nay thuộc thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Ông Tạ Quang Khai tham gia phong trào yêu nước nên bị giặc Pháp lùng bắt, vì vậy đã đưa gia đình lên sinh sống tại vùng Tràng Định - Thất Khê (Lạng Sơn).

Hưng Yên06/12/2025Nguyễn Cảnh Minh (Bảo tàng Quân đoàn 3)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Anh hùng LLVTND, Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo

Đồng chí giác ngộ cách mạng rất sớm thông qua những đợt tham gia buổi tuyên truyền của Đảng. Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang. Năm 1941, đồng chí tham gia Việt Minh, rồi được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Trong thời gian này, Tạ Quang được Bác Hồ đặt tên mới là Hoàng Minh Thảo - cái tên như một tiên đoán về cuộc đời và sứ mệnh của vị tướng tài ba xuất chúng. Theo đó, họ Hoàng là lấy tên của trường Hoàng Phố, đệm và tên là Minh Thảo, dành cho con người thông minh, có tấm lòng tình nghĩa, thảo thơm. Họ tên Hoàng Minh Thảo đã gắn bó với đồng chí suốt cuộc đời.

Trong cuộc đời binh nghiệp, có gần 10 năm gắn bó với chiến trường Tây Nguyên - vị trí chiến lược hết sức quan trọng trên chiến trường Miền Nam. Tháng 11/1966, đồng chí được điều vào giữ chức Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Tháng 7/1967, đồng chí giữ chức Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Đại tá Trần Thế Môn làm Chính ủy thay đồng chí Thiếu tướng Chu Huy Mân (Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên) về làm Tư lệnh Quân khu 5. Tháng 6/1974, đồng chí được cử làm Phó tư lệnh Quân khu 5. Tháng 3/1975, đồng chí được giao giữ trọng trách Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 04/3 đến 03/4/1975).

Là Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí luôn hiểu rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, chủ động, linh hoạt trong chỉ huy tác chiến, phát huy điểm mạnh của các lực lượng, khoét sâu vào điểm yếu của địch. Bằng tư duy chiến lược sắc sảo, đồng chí cùng bộ chỉ huy đã sáng tạo ra nhiều cách đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Trong Chiến dịch Đắc Tô 1 (1967), với kế dụ địch vào thế trận “bọc sau lưng địch, gài bẫy vu hồi” của ta và sáng tạo ra chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”. Các đơn vị chủ lực tại chỗ được lệnh cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến nghi binh, thu hút sự chú ý của địch. Trước khi mở màn chiến dịch, ta đã hoạt động nghi binh khá thành công; trong khi ta triển khai lực lượng quân địch vẫn không phát hiện được gì. Theo kế hoạch, ngày 5 tháng 11 ta mới bắt đầu nổ súng mở màn chiến dịch. Nhưng quân Mỹ ra sớm, lại đổ ngay vào hai khu quyết chiến của ta là Ngọc Kom Liệt, Ngọc Dơ lang và Ngọc Krông Kring. Trước diễn biến mới về địch, nhận định đây là thời cơ thuận lợi, ta đã rút ngắn được thời gian khêu ngòi, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định: Tiểu đoàn 6 Tây Ninh kiên quyết ngăn chặn tiêu hao địch, giữ vững chốt, đồng thời dùng hỏa lực khống chế sân bay Đăk Tô, Tân Cảnh hỗ trợ cho lực lượng chính tiêu diệt địch ở khu quyết chiến đã chuẩn bị. Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến trên hai hướng tiến công của địch, dự đoán chúng sẽ tăng quân và tiến sâu hơn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định: Trung đoàn 174 dừng vận chuyển, khẩn trương cơ động ra khu vực phía tây Lăng Kram, gấp rút hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng bước vào chiến đấu; đồng thời lệnh cho Sư đoàn bộ binh 1 dùng phân đội nhỏ đánh vây ép, tranh thủ đánh vận động ngoài công sự, nắm chắc thời cơ tập kích địch trong công sự, bằng nhiều trận liên tục tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ; Trung đoàn 24 và lực lượng địa phương đánh mạnh ở phía đông đường 14, thị xã và giao thông; Tiểu đoàn 6 vừa đánh vừa củng cố công sự và sơn pháo 75 sẵn sàng bắn vào Đăk Tô, Tân Cảnh theo mệnh lệnh.

Thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, trong các ngày 12,15,16 tháng 11, Đại đội 1 pháo binh dùng 2 khẩu pháo 75 trên dãy Ngọc Bờ Biêng bắn phá sân bay Đăk Tô 2 và căn cứ Tân Cảnh. Với cách đánh táo bạo đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng, ta đã làm tê liệt sân bay, gây thiệt hại nặng sở chỉ huy dã chiến Sư đoàn bộ binh 4 Mỹ, xóa sổ trại biệt kích ngụy, diệt trên 350 tên (có 150 tên Mỹ), phá hủy 3 máy bay vận tải C130 chở đầy lính, 4 xe quân sự, bắn cháy 2 kho xăng, làm nổ tung 1 kho đạn trên 1.000 tấn và phá hủy một cụm thông tin. Chỉ huy địch bị rối loạn, cái dạ dày dùng cho 16.000 quân bị vỡ, tiếp tế bị gián đoạn càng làm cho địch thêm rối bời. Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn đã phải hốt hoảng kêu lên: “Đây là cơn bão lửa kinh khủng nhất... Việt cộng bắn cả ngày lẫn đêm rất chính xác, gây thiệt hại cho quân đồng minh...”[1].

Ngày 22/11, Chiến dịch Đăk Tô 1 kết thúc toàn thắng. Sau 20 ngày đêm chiến đấu liên tục, ta đã đánh 78 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.670 tên địch (có 2.690 tên Mỹ). Nếu tính cả giai đoạn hoạt động nghi binh chiến dịch và các hướng phối hợp, có 4.570 tên địch (4.030 tên Mỹ) bị loại khỏi vòng chiến đấu; 3 sân bay bị đánh hư hại nặng, 70 máy bay bị phá hủy và bắn rơi, 18 pháo lớn, 52 xe quân sự (16 xe bọc thép), 2 kho đạn bị phá hủy, 3 kho xăng bị đốt cháy; 104 súng các loại và 14 vô tuyến điện bị tịch thu. Về đơn vị, ta đã đánh quỵ lữ đoàn dù 173, lữ đoàn 1 (sư đoàn 4) Mỹ, tiêu diệt gần hết 2 tiểu đoàn Mỹ và đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Mỹ), diệt 6 đại đội khác (có 2 đại đội Mỹ), làm mất sức chiến đấu 1 tiểu đoàn của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ và chiến đoàn 3 ngụy.

Chiến thắng Đăk Tô 1 “ghi thêm vào trang sử quyết thắng của dân tộc ta những nét son chói lọi... là một trong những chiến thắng lớn nhất mở đầu Đông Xuân quyết thắng 1967 - 1968 của miền Nam anh hùng”... Đối với Bộ đội chủ lực Tây Nguyên, Chiến dịch Đăk Tô 1 đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch (lừa dụ địch, tiêu diệt địch ở khu quyết chiến), hoàn chỉnh thêm chiến thuật “Vận động tiến công kết hợp chốt” và mở ra khả năng mới về đánh tiêu diệt địch trên chiến trường. Đây là một cống hiến xuất sắc đóng góp vào kho tàng nghệ thuật quân sự của Quân đội ta[2].

Mùa hè năm 1969, Bộ Tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở chiến dịch Đắc Tô 2. Thời gian nổ súng được ấn định vào đêm mùng 9 rạng ngày 10/5/1969. Ngày 18/4, Bộ Tư lệnh Chiến trường giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia Chiến dịch. Lập tức cả Tây Nguyên bừng bừng khí thế ra trận “Đánh cho Sư đoàn 4 đảo điên, đánh cho quân ngụy ở Tây Nguyên tơi bời”. Cao trào thi đua “Trẩy hội Điện Biên, lập công dâng Bác” diễn ra sôi động khắp chiến trường.

Phát hiện ta mở chiến dịch, địch mở cuộc hành quân “Dân quyền 35” nhằm thăm dò, ngăn chặn chuẩn bị chiến dịch của ta. Đồng thời chúng gấp rút điều động lực lượng lên Đăk Tô. Địch ra quân sớm, trong khi ta đang ở giai đoạn chuẩn bị chiến dịch và chiếm lĩnh trận địa. Nhưng với tinh thần chủ động, cảnh giác cao ta đã kịp thời xuất kích một lực lượng tiêu diệt địch, đồng thời đẩy nhanh tốc độ triển khai lực lượng trên các hướng. Trong khi các lực lượng ở các hướng chính bước vào chiến đấu sớm, các đơn vị trên các hướng phối hợp kịp thời chiếm lĩnh trận địa, chủ động nổ súng tiến công địch giành nhiều thắng lợi.

Quan tâm nắm chắc mọi diễn biến của chiến dịch và kịp thời rút kinh nghiệm, quyết tâm tìm ra cách đánh hiệu quả, Bộ Tư lệnh Chiến trường quyết định chuyển sở chỉ huy chiến dịch vào khu chiến Ngọc Dơ Lang để chỉ huy chặt chẽ hơn. Trong những ngày cuối tháng 5, bộ đội kiên trì xuyên rừng lùng sục sốt ngày đêm. Với cách đánh mới vận động bao vây tiến công liên tục, với những trận đánh then chốt có ý nghĩa quyết định, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thắng lợi. Sau 45 ngày đêm chiến đấu (tháng 5, tháng 6/1969) quân và dân Tây Nguyên đã đánh 659 trận lớn, nhỏ, làm thất bại các cuộc hành quân “Dân quyền” 35, 40, 41, 42 của địch, diệt, đánh thiệt hại nặng gần 15 tiểu đoàn Mỹ, ngụy, tiêu hao 10 đại đội và chỉ huy cụm biệt kích 5, căn cứ 42 Tân Cảnh, Tân Lạc, La Sơn ... loại khỏi vòng chiến đấu 12.997 tên địch (có 5.014 tên Mỹ), bắt 168 tên; phá hủy 1.151 xe quân sự (có 406 xe tăng, xe bọc thép), 74 pháo cối lớn, 317 nhà, 392 lô cốt, hầm ngầm, 6 dàn ra đa, 101 kho các loại; bắn rơi và phá hủy 266 máy bay, phá sập 11 cầu cống và 1.409 ống dẫn dầu.

Chiến dịch Đăk Tô 2 “đã thu được thắng lợi to lớn toàn diện, vượt hẳn các chiến dịch trước đây về số lượng cũng như chất lượng... đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và những yêu cầu của trên giao”[3]. Chiến thắng Đăk Tô 2 đã giáng đòn phủ đầu vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch ở Tây Nguyên, làm thất bại một bước biện pháp chiến lược “quét và giữ”, buộc chúng phải co về thế phòng ngự bị động. Điểm nổi bật của chiến dịch là nghệ thuật chọn hướng và khu vực tác chiến chủ yếu, chính xác, tạo thế và thời cơ đưa địch vào khu quyết chiến mà ta tập trung lực lượng, chuẩn bị sẵn để đánh trận then chốt tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch, giành thắng lợi quyết định. Về mặt chiến thuật, ta đã sử dụng thành công cách đánh mới: vận động bao vây tiến công liên tục, đánh bại chiến thuật đóng chốt trên điểm cao và thủ đoạn di tản, co cụm của quân ngụy. Đây cũng là chiến dịch ta thực hiện tốt phương châm “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, đạt hiệu suất chiến đấu cao; mở ra khả năng tổ chức những chiến dịch lớn hơn, có thể đánh quỵ và tiêu diệt từng trung đoàn, đánh thiệt hại sư đoàn địch trên chiến trường Tây Nguyên.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng (5/1971): “Phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đánh bại chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua”, xuân hè 1972 ta mở cuộc tiến công chiến lược trên 3 hướng: Trị - Thiên (chủ yếu), Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (phối hợp). Trong đó chiến trường Tây Nguyên được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ: “Tiêu diệt địch, giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là hướng Plei Ku, có điều kiện thì giải phóng tây Plei Ku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ”[4].

Quán triệt, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và chỉ thị, nhiệm vụ của Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh giao, cuối tháng 10/1971, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên họp bàn ra nghị quyết (số 116/A1) về chiến dịch xuân hè năm 1972, xác định quyết tâm. Ngay sau hội nghị Đảng ủy Chiến trường Tây Nguyên, công tác chuẩn bị chiến dịch được tiến hành tích cực, khẩn trương và bí mật. Trải qua 68 ngày đêm chiến đấu liên tục, khẩn trương, ác liệt, mặc dù ta chưa đạt được mục đích cao nhất của chiến dịch là giải phóng thị xã Kon Tum, nhưng chiến dịch tiến công xuân hè 1972 của quân và dân Tây Nguyên cũng đạt được thắng lợi to lớn và có ý nghĩa chiến lược. Ta đã tiêu diệt sư đoàn 22 (thiếu), đánh thiệt hại nặng sư đoàn 23 và sư đoàn dù 2, liên đoàn biệt động quân số 2, số 6 và 10 tiểu đoàn khác; loại khỏi vòng chiến đấu 27.953 tên địch, bắn rơi phá hủy, phá hỏng 212 máy bay, 1.227 xe quân sự, 146 pháo cối lớn, 75 kho, 25 cầu cống, 1 dàn ra đa, đốt cháy 70 vạn lít xăng và 1 vạn tấn bom đạn; thu 3.518 súng các loại, 88 xe, 3 trực thăng, 228 vô tuyến điện, 4 tổng đài, gần 9.000 viên đạn pháo và nhiều đạn dược, quân dụng, giải phóng phần lớn tỉnh Kon Tum với khoảng 4 vạn dân.[5]

Chiến dịch bắc Tây Nguyên năm 1972 là chiến dịch tiến công quy mô tương đương quân đoàn đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, diễn ra trong điều kiện ta còn nhiều khó khăn. Thắng lợi của chiến dịch đã làm thay đổi cục diện chiến trường, mở rộng hoàn chỉnh thêm căn cứ địa rộng lớn của cách mạng ba nước Đông Dương, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn miền Nam, đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Từ thực tiễn phong phú của chiến dịch nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra, nhất là nghệ thuật lập thế trận, làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Trong cuộc tiến công chiến lược năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, với tư duy chiến lược nhạy cảm, sáng suốt, đồng chí đã đề nghị với Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu mở đầu cuộc tiến công chiến lược năm 1975. Bởi theo ông, Buôn Ma Thuột là vị trí hiểm yếu trong hệ thống phòng ngự của địch, giải phóng Buôn Ma Thuột sẽ “đánh gãy xương sống” của địch, tạo ra thế và lực có lợi cho ta phát triển tiến công. Trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, nơi hiểm yếu và cũng là nơi địch sơ hở nhất và có khả năng phát triển xuống đồng bằng”. Ý kiến của đồng chí đã được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu đồng tình chấp nhận.

Với trọng trách được giao là Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, đồng chí Hoàng Minh Thảo đã thể hiện rõ tư duy chiến lược, nghệ thuật dùng mưu, nghi binh lừa địch đạt đến đỉnh cao. Chiến dịch mở đầu bằng một loạt hoạt động cài thế, bao vây, chia cắt, cô lập Buôn Ma Thuột. Thực hiện phương châm “trói địch lại mà diệt”, ta đã cắt đứt hoàn toàn các tuyến đường bộ nối Buôn Ma Thuột với Bắc Tây Nguyên và đồng bằng, làm cho địch không thể ứng cứu đường bộ khi thị xã Buôn Ma Thuột bị tiến công. Đồng thời, ta đã dùng mưu tăng cường hoạt động nghi binh, thu hút sự chú ý của địch về phía Bắc Tây Nguyên (Kon Tum), đánh trận giả ở Pleiku làm cho địch mắc mưu, lầm tưởng rằng ta sẽ tiến công căn cứ Pleiku, để sơ hở hướng Nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện cho ta tập trung lực lượng giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Trong 30 ngày đêm liên tục tiến công, ta đã làm tan rã quân đoàn 2, một bộ phận lực lượng dự bị chiến lược, toàn bộ lực lượng địch ở Tây Nguyên và hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Với thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên ta đã giải phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa với khoảng 1.600.000 dân[6].

Chiến dịch Tây Nguyên, đòn mở đầu giành thắng lợi vang dội có ý nghĩa chiến lược, buộc quân địch phải tháo chạy khỏi Tây Nguyên, đã tạo ra sự thay đổi căn bản về so sánh lực lượng và thế trận giữa ta và địch, dẫn đến sự sụp đổ và đột biến về chiến lược và tinh thần của ngụy quyền Sài Gòn, đã tạo ra thời cơ chiến lược có một không hai để Bộ Chính trị hạ quyết tâm “Khẩn trương chuyển hẳn sang phương án thời cơ, chuyển cuộc tiến công chiến lược thành tổng tiến công chiến lược, hoàn thành kế hoạch hai năm (1975-1976) ngay trong năm 1975”. Đúng như đồng chí Hoàng Minh Thảo đã đúc kết, “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, hoạt động nghi binh lừa dụ địch, tập trung lực lượng ưu thế hơn kẻ địch trong đòn mở đầu Buôn Ma Thuột là nét đặc sắc trong nghệ thuật tác chiến của quân đội ta.

Thắng lợi của các chiến dịch trên chiến trường Tây Nguyên là sự đóng góp to lớn về sức lực, trí tuệ, xương máu của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; đồng thời thể hiện vai trò to lớn của tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, trong đó có vai trò hết sức quan trọng của người chủ trì - đồng chí Hoàng Minh Thảo, một vị tướng tài năng, đức độ, giỏi trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, bậc thầy của nghệ thuật dụng binh, nhạy bén quyết đoán, sáng tạo trong lãnh đạo, tổ chức chỉ huy đã góp phần cùng tập thể lập được những chiến công oanh liệt.

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và công tác, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, 02 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Năm 2005, đồng chí được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Đặc biệt, ngày 17/10/2023, Chủ tịch Nước Võ Văn Thưởng đã ký Quyết định số 1207/QĐ-CTN truy tặng đồng chí Hoàng Minh Thảo danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn