Bài viết

ANH HÙNG LÒ VĂN BƯỜNG – "CHIẾN SĨ DÂN VẬN THÉP" XỨ THANH VÀ TẤM LÒNG CAO CẢ VÌ DÂN BẢN

An Giang03/07/2026Đoàn Phường Long Phú (Đoàn Phường Long Phú)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Lò Văn Bường sinh năm 1924 và lớn lên tại vùng núi Cộc Chẻ, xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Là một người con của đồng bào dân tộc Thái giàu truyền thống yêu nước, ngay từ thuở thiếu thời, ông đã nuôi dưỡng ý chí quyết tâm đứng lên bảo vệ bản làng, chống lại ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp xâm lược.

Năm 1948, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng trai 24 tuổi Lò Văn Bường hăng hái lên đường nhập ngũ, thuộc biên chế Trung đội 3, Sư đoàn 355 (sau này thuộc Đoàn 335) bộ đội tình nguyện Việt Nam. Mong muốn của ông vô cùng giản dị: đem sức trẻ gánh vác nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp đỡ nước bạn Lào giải phóng quê hương cũng chính là bảo vệ biên cương của Tổ quốc mình.

Nhận thấy bản tính kiên trì, thấu hiểu phong tục tập quán miền núi của ông, tổ chức đã phân công ông sang các vùng rừng núi âm u, khí hậu vô cùng khắc nghiệt như Viêng Say, Sầm Nưa, Sầm Tớ và phía Nam Xiêng Khoảng để làm công tác dân vận, xây dựng cơ sở cách mạng sau lưng địch.

Những năm đầu hoạt động nơi đất bạn, khó khăn lớn nhất của quân ta là địa bàn xa xôi, rừng thiêng nước độc và cơ sở cách mạng thường xuyên bị kẻ thù càn quét, đánh vỡ tan tành. Không chịu khuất phục trước đói rét, bệnh tật hành hạ liên miên hay sự khủng bố gắt gao của địch, ông Lò Văn Bường cùng các đồng đội kiên trì chia nhỏ thành từng tổ từ 2 đến 3 người, bí mật bám sát các thôn bản, ngày ra nương đón dân đi làm về để vận động từng người dân tin tưởng theo cách mạng. Nhờ sự mưu trí và lòng kiên nhẫn bám dân, ông đã cùng anh em xây dựng vững chắc hệ thống cơ sở cách mạng tại 28 bản làng, thành lập nên 70 đội du kích và trực tiếp lãnh đạo nhân dân hai lần đập tan âm mưu "dồn dân" thâm độc của thực dân Pháp.

Bước ngoặt lớn đến vào đầu tháng 2 năm 1952, trong một lần vào bản Mường Khun để củng cố lại phong trào vừa bị vỡ, tổ công tác của ông bất ngờ đụng độ với một toán địch và thổ phỉ gồm 20 tên đang lùng sục gắt gao. Quyết không để sa vào tay giặc và bảo vệ bí mật cơ sở, ông Lò Văn Bường dũng cảm nổ súng b.ắ.n trả kiên quyết, thu hút hỏa lực về phía mình để bọc lót cho đồng đội rút lui an toàn. Trận chiến không cân sức khiến ông bị thương rất nặng ở bụng, đốt sống cổ và hỏng hoàn toàn mắt phải, ngã gục xuống bìa rừng hoang vu. Nghĩ rằng người chiến sĩ cách mạng đã c.h.ế.t, quân địch bỏ đi vơ vét nhà dân.

M.á.u chảy đầm đìa, ông lết sâu vào rừng rồi ngất lịm đi, cho đến khi nghe tiếng ve rừng kêu ran cả góc trời mới giật mình tỉnh dậy, biết mình còn sống và kiên cường bò lết nhiều ngày liền để tìm đường về nơi trú quân. Giữa chốn núi thẳm không thuốc men, vết thương hoại t.ử nghiêm trọng, ông vẫn kiên cường nén đau đớn để động viên anh em giữ vững tinh thần, tiếp tục bám sát địa bàn bảo vệ đường dây liên lạc.

Đến năm 1953, khi thực dân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, ông lại tiếp tục băng rừng về khu vực Xiêng Khoảng, phối hợp với cán bộ địa phương củng cố phong trào du kích, phát hiện biệt kích và giữ vững an ninh cho vùng sau lưng địch đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Nhờ những cống hiến kiệt xuất và tinh thần tận tụy hy sinh không quản ngại hiểm nguy, ngày 7/5/1956, ông vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba khi đang là Trung đội phó bộ binh.

Sau ngày giải phóng Điện Biên Phủ, người anh hùng đất Thanh tiếp tục mang theo ba lô chiến sĩ bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gánh vác trọng trách bảo vệ tuyến đường giao thông huyết mạch của tỉnh Thanh Hóa từ cầu Hàm Rồng đến địa phận huyện Tĩnh Gia.

Khi đất nước thống nhất, ông được thuyên chuyển về công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa và được nhân dân tin tưởng, mến mộ bầu làm Đại biểu Quốc hội trong nhiều khóa liền.

Năm 1992, ông nghỉ hưu và trở về cuộc sống đời thường bình dị tại thôn Cộc Chẻ, xã Xuân Lẹ bên người vợ hiền Trương Thị Pừng — người đã dành trọn tuổi xuân thủy chung chờ đợi ông đi qua hai cuộc chiến tranh phá hoại. Trở về với bản làng, vị anh hùng già lại lập chiến công thời bình khi tiên phong phục tráng, hồi sinh giống quế đặc sản Thường Xuân, tận tình hướng dẫn kỹ thuật cho bà con gieo trồng để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và hạn chế nạn phá rừng làm rẫy.

Đặc biệt, khi biết Nhà nước có chủ trương đổ một con đường nhựa kiên cố mang tên Lò Văn Bường vào đến tận nhà để tri ân, ông đã một mực từ chối và đề đạt nguyện vọng dành toàn bộ số kinh phí đó để làm đường nhựa liên xã cho bà con đi lại đỡ khổ, giúp trẻ em không phải lội suối trèo đèo khi đến trường.

Bước qua tuổi xưa nay hiếm, là một trong năm Anh hùng chống Pháp cuối cùng của xứ Thanh còn sống tại thời điểm năm 2016, người chiến sĩ năm nào vẫn vẹn nguyên hào khí và tấm lòng dung dị, mẫu mực. Cuộc đời ông chính là tấm gương sáng ngời, một khúc tráng ca bất tử về người lính Cụ Hồ trọn đời vì nước, vì dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn