ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐẠI TÁ LÊ BÁ ƯỚC
“Xin về cư trú chốn đền thờ Liệt sĩ Đoàn 10 vẫn đợi chờ Nhân chứng anh hùng trong lịch sử Cùng nhau nhang khói tỏa hồn thơ…”
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐẠI TÁ LÊ BÁ ƯỚC
“Xin về cư trú chốn đền thờ
Liệt sĩ Đoàn 10 vẫn đợi chờ
Nhân chứng anh hùng trong lịch sử
Cùng nhau nhang khói tỏa hồn thơ…”
Đại tá, Anh hùng LLVT Lê Bá Ước nguyên là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 của Đặc công rừng Sác, với chiến công gần hàng trăm trận đánh đặc công thủy. Đại tá Lê Bá Ước sinh ra trong một gia đình và làng quê giàu truyền thống yêu nước và cách mạng ở xã Vĩnh Hòa Hưng, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang). Ông tham gia cách mạng từ năm 1945.Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia Vệ Quốc đoàn, Ban Tình báo C70. Năm 1954, ông tập kết ramiền Bắc. Năm 1965, ông vượt Trường Sơn trở về miền Nam chiến đấu với quân hàm Đại úy.Tham gia kháng chiến năm 1945, chiến đấu liên tục trong quân ngũ, trưởng thành từ cấp tiểu đội lên đến trungđoàn, sư đoàn, trải qua các thời kỳ đánh Pháp, đuổi Mỹ, đánh Pôn-Pốt giúp bạn Campuchia, được đào tạo quacác trường lớp quân sự - chính trị, trên mọi vị trí công tác thời chiến tranh ác liệt cũng như trong hòa bình, ông đều phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Thời kỳ khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất có lẽ là giai đoạn ông giữ các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 10 đặc công rừng Sác chiến đấu chống Mỹ cứu nước với nhiều chiến công oanh liệt còn mãi với thời gian.Năm 1968, Đoàn 10 được giao trọng trách khóa chặt sông Lòng Tàu (huyện Nhơn Trạch), đánh phá bến cảng,kho tàng của địch; đồng thời tiêu diệt đồn bót, ấp chiến lược, giải phóng đất, giải phóng nhân dân. Với tài chỉ huy của ông, bằng sức tiến công dũng mãnh, Đoàn 10 đã nhanh chóng làm chủ các ấp chiến lược, tiêu hao sinhlực địch, phục hồi cơ sở cách mạng, đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét, đánh chìm nhiều tàu vận tải hàngchục ngàn tấn của địch và thọc sâu pháo kích vào các khu: Kho Thành Tuy Hạ, Cát Lái, Nhà Bè, ngăn chặn có hiệu quả quân địch trên tuyến đường thủy huyết mạch chi viện cho mặt trận Sài Gòn.
Đặc biệt, giữa lúc bị địch bao vây gắt gao nhất, tháng 8-1968, Đoàn 10 rừng Sác nhận lệnh đánh vào Dinh ĐộcLập và Đại sứ quán Mỹ. Trực tiếp chỉ huy trận đánh, Đại tá Lê Bá Ước ngồi trên xuồng trinh sát, vạch đườngluồn qua các chốt chặn của hải quân Mỹ tiến sát mục tiêu, giáng một đòn nảy lửa vào sào huyệt kẻ thù, tiêu diệthàng trăm chiếc tàu trọng tải lớn của địch. Kết thúc chiến dịch Mậu Thân, Đoàn 10 được phong tặng: “Thành đồng quyết thắng” và nhiều danh hiệu cao quý khác.Những năm 1972-1973, Đoàn 10 do đồng chí Lê Bá Ước giữ chức Đoàn trưởng kiêm Chính ủy tiếp tục được Bộ Chỉ huy miền giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có các nhiệm vụ phá hủy kho xăng Nhà Bè và khobom Thành Tuy Hạ. Riêng ông được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo mũi đánh vào Thành Tuy Hạ. Sau nhiều tháng điều nghiên, 8 lần đột nhập thực địa, kế hoạch đánh kho bom lần thứ nhất được thực hiện. Kết quả, 23 nhàkho chứa chất nổ và 9 kho chất đầy bom napal của địch bị đánh nổ. Trận này, Đoàn 10 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Tiếp theo sau thắng lợi của trận đánh, phương án đánh kho bom lần hai đượcthông qua. Kết thúc, hơn 100 ngàn tấn bom trong kho Thành Tuy Hạ của địch đã bị phá hủy…
Những năm 1974-1975, Đại tá Lê Bá Ước chuyển về giữ chức Chính ủy Sư đoàn Đặc công (gồm 7 trung đoàn), liên tục chiến đấu tiêu hao sinh lực địch và ngày một tiến sâu vào nội ô Sài Gòn. Đặc biệt, trong Chiến dịch tổng tiến công mùa xuân năm 1975, ông là người đã trực tiếp nhận lệnh của tướng Hữu An (Tư lệnh Quân đoàn2) và tướng Hoàng Cầm (Tư lệnh Quân đoàn 4) phối hợp đánh cầu Hóa An, cầu Ghềnh, Hốc Bà Thức, cầu Sài Gòn, cầu Rạch Chiếc để mở đường cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn.Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, ông về giữ chức Phó chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sựtỉnh. Với cương vị mới, ông lại cùng với quân - dân Đồng Nai tham gia chiến trường Tây Nam bộ và tấn công tiêu diệt bọn lưu vong, phản động, giữ vững độc lập, hòa bình cho Tổ quốc.
Người lính già đã dừng bước trên con đường trường chinh nhiều chông gai, gian khổ nhưng luôn tươi thắm lý tưởng, nghĩa tình. Sau khi ông mất, theo nguyện vọng của ông, gia đình đã hỏa táng và đưa một phần tro cốt về sông Lòng Tàu, cho ông thỏa lòng gặp lại anh em, đồng đội. Di nguyện cuối cùng không khắc vào đá, mà gửi vào thơ, như một cứu cánh tinh thần và vĩnh cửu.
Hôm nay, chúng ta được sống trong hòa bình, được học tập, lao động và xây dựng tương lai. Mỗi người có trách nhiệm gìn giữ thành quả ấy bằng những việc làm tốt đẹp, bằng tình yêu quê hương và bằng sự trân trọng đối với lịch sử dân tộc.
Dù ông đã đi xa, tên tuổi ông vẫn còn trong ký ức gia đình và trong câu chuyện về những người con quê hương đất nước đã hy sinh vì Tổ quốc. Chúng cháu hôm nay luôn trân trọng sự hy sinh ấy và nguyện sống có trách nhiệm, biết yêu thương, sẻ chia, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ!



