Anh Hùng lực lượng vũ trang Đào Duy Cảnh
Ngay từ khi 4 tuổi, cậu bé Đào Duy Cảnh (sinh ngày 19-8-1941) ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội đã mồ côi cha. Chứng kiến cảnh gia đình và làng quê bị quân Pháp đốt phá, nên khi mới hơn 10 tuổi, Đào Duy Cảnh xin được làm liên lạc cho tổ chức cách mạng ở địa phương. Năm 1953, nhận thấy tố chất của thiếu niên Đào Duy Cảnh, cán bộ đã đến nhà, động viên mẹ Cảnh là bà Nguyễn Thị Tơ-một cơ sở cách mạng của xã Cổ Loa gửi con ra vùng tự do học tập. Vậy là thoát ly gia đình, Đào Duy Cảnh lên chiến khu. Là người chịu khó, say mê học tập nên Đào Duy Cảnh từng bước rèn luyện, trưởng thành. Vừa học, Đào Duy Cảnh vừa cùng các bạn học sinh đi lao động tại mỏ than Quán Triều, Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ... để có tiền ăn học cũng như gửi về quê đỡ mẹ. “Có lẽ do hạnh kiểm và điểm thi tốt nên tôi đã được vào học chuyên ngành vô tuyến điện tại Trường Đại học Bách khoa-niềm mơ ước của nhiều thanh niên thời bấy giờ”, ông Đào Duy Cảnh kể.
Ngay từ khi 4 tuổi, cậu bé Đào Duy Cảnh (sinh ngày 19-8-1941) ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội đã mồ côi cha. Chứng kiến cảnh gia đình và làng quê bị quân Pháp đốt phá, nên khi mới hơn 10 tuổi, Đào Duy Cảnh xin được làm liên lạc cho tổ chức cách mạng ở địa phương. Năm 1953, nhận thấy tố chất của thiếu niên Đào Duy Cảnh, cán bộ đã đến nhà, động viên mẹ Cảnh là bà Nguyễn Thị Tơ-một cơ sở cách mạng của xã Cổ Loa gửi con ra vùng tự do học tập. Vậy là thoát ly gia đình, Đào Duy Cảnh lên chiến khu. Là người chịu khó, say mê học tập nên Đào Duy Cảnh từng bước rèn luyện, trưởng thành. Vừa học, Đào Duy Cảnh vừa cùng các bạn học sinh đi lao động tại mỏ than Quán Triều, Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ... để có tiền ăn học cũng như gửi về quê đỡ mẹ. “Có lẽ do hạnh kiểm và điểm thi tốt nên tôi đã được vào học chuyên ngành vô tuyến điện tại Trường Đại học Bách khoa-niềm mơ ước của nhiều thanh niên thời bấy giờ”, ông Đào Duy Cảnh kể.
Ngày 12-7-1965, tốt nghiệp đại học, kỹ sư Đào Duy Cảnh nhập ngũ. Khoảng một tháng sau, ông được điều động về làm trợ lý xe kips đạn tên lửa thuộc Ban Kỹ thuật Trung đoàn 238 (nay thuộc Sư đoàn 363), Quân chủng Phòng không-Không quân. Cho đến bây giờ, ông Cảnh vẫn thấy tiếc nuối vì thời điểm ông được điều về Trung đoàn 238 thì đơn vị vừa kết thúc khóa huấn luyện chuyển loại tên lửa kéo dài 6 tháng do chuyên gia Liên Xô lên lớp. Lúc này, Tiểu đoàn 85 đã có 12 kỹ sư (6 kỹ sư cơ khí, 5 kỹ sư hóa và 1 kỹ sư điện), Đào Duy Cảnh là kỹ sư thứ 13, duy nhất là kỹ sư vô tuyến điện trong khi các khối của khí tài và đạn tên lửa chủ yếu là điện tử. Chính vì vậy, ông quyết tâm học tập tiến tới làm chủ vũ khí, khí tài để phục vụ chiến đấu. Và sau hơn nửa năm khổ luyện cùng sự giúp đỡ của đồng đội, ông đã cơ bản làm chủ kỹ thuật của khí tài, phát hiện và sửa chữa kịp thời hầu hết các hỏng hóc của xe.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đào Duy Cảnh.
Năm 1966, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Theo chỉ đạo của trên, Trung đoàn 238 nhận nhiệm vụ cơ động vào chiến trường Khu 4 chiến đấu bảo vệ tuyến giao thông và nghiên cứu cách đánh B-52. Cùng các đơn vị của trung đoàn, kỹ sư Đào Duy Cảnh và Tiểu đoàn 85 nhanh chóng đưa khí tài, xe máy cơ động bám sát đội hình, vừa hành quân vừa triển khai sản xuất đạn cho các đơn vị hỏa lực chiến đấu. Trên đường hành quân, xe kips do đồng chí Cảnh chỉ huy đến ngầm Cà Tang (Quảng Bình) gặp nước dâng to, cọc tiêu chỉ còn mập mờ, việc di chuyển lên phía trước của xe gặp nhiều khó khăn. Trước tình huống đó, ông đã lệnh cho đồng chí Khoán lái xe tắt đèn gầm, còn mình ra ngoài ca bin bám sát đầu xe, “xi nhan” dưới ánh pháo sáng của địch để đi, quyết đưa xe vượt qua trọng điểm an toàn. Tháng 7-1967, đạn tên lửa của Tiểu đoàn 84 bị hỏng, Trung đoàn 238 lệnh cho Tiểu đoàn 85 cử một dây chuyền kiểm tra cơ động, trong đó có kỹ sư Đào Duy Cảnh, cấp tốc cùng tổ chuyên gia Liên Xô vào hỗ trợ. Hơn một ngày làm việc, không phát hiện hỏng hóc, chuyên gia đề nghị đóng máy trở ra Hà Nội xin chi viện của quân chủng. Lúc này, mang tâm trạng lo ngại nếu chờ chuyên gia quân chủng tăng cường thì không biết lúc nào mới đến được, trong khi các đơn vị hỏa lực đang rất cần đạn chiến đấu, Đào Duy Cảnh mạnh dạn đề nghị cấp trên cho phép tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân hỏng hóc trong khi chờ đợi. Được sự đồng ý của chỉ huy các cấp cùng sự hỗ trợ của đồng đội, trải qua 56 giờ không nghỉ, kỹ sư Đào Duy Cảnh đã phân tích hoạt động liên quan giữa xe kips và đạn cùng sự phản hồi giữa đạn và xe kips. Ông đã tìm ra vị trí hỏng nên khí tài và đạn tên lửa được sửa chữa sớm, kịp thời cung cấp cho các đơn vị hỏa lực. 3 trong số đạn tên lửa được sửa chữa lần ấy đã đi vào lịch sử khi lần đầu tiên bộ đội tên lửa Việt Nam bắn rơi máy bay B-52 trên bầu trời Vĩnh Linh ngày 17-9-1967...



