Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Phòm

Phú Thọ14/01/2026Đoàn TNCS HCM xã Thanh Ba (Đoàn TNCS HCM xã Thanh Ba)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Phòm là một trong những tấm gương tiêu biểu về lòng trung thành với cách mạng, ý chí kiên cường và sự gắn bó máu thịt với đồng bào các dân tộc vùng biên giới phía Tây Quảng Bình trong những năm tháng kháng chiến ác liệt. Đồng chí sinh năm 1917, là người dân tộc Bru (Khùa), quê ở xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Trước cách mạng, cuộc sống của Hồ Phòm và đồng bào Khùa vô cùng cơ cực, đói nghèo, lạc hậu; cả dân tộc chưa có họ, về sau lấy họ Bác Hồ làm họ chung để thể hiện niềm tin và lòng biết ơn sâu sắc với cách mạng. Chính từ mảnh đất gian khó ấy đã hun đúc nên một con người mộc mạc nhưng giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng và sẵn sàng hiến dâng trọn đời mình cho Tổ quốc.

Tham gia cách mạng từ năm 1955, Hồ Phòm từng là dân quân xã, Phó Chủ tịch Mặt trận xã, rồi trở thành chiến sĩ Công an tỉnh Quảng Bình. Tháng 3 năm 1959, đồng chí chuyển sang lực lượng Công an nhân dân vũ trang và công tác liên tục tại đồn biên phòng Cha Lo – một địa bàn rừng núi hiểm trở, giao thông khó khăn, tình hình an ninh phức tạp, thường xuyên bị các thế lực phản động, thổ phỉ lợi dụng chia rẽ đồng bào. Khi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng, đồng chí là Thiếu úy, Đồn phó đồn biên phòng Cha Lo, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trên cương vị công tác, Hồ Phòm được giao nhiệm vụ vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng biên giới Việt – Lào. Ngay từ những ngày đầu, đồng chí đã đối mặt với muôn vàn hiểm nguy. Tại hai bản Pha Xoóng và Cả Toóc, nơi phỉ hoạt động mạnh, cơ sở của ta gần như bị phá vỡ, địch nhiều lần phục kích, treo giải thưởng để giết Hồ Phòm. Nhưng với bản lĩnh vững vàng, lòng dũng cảm và sự kiên trì hiếm có, đồng chí vẫn bám dân, bám bản, vừa tuyên truyền, giáo dục, vừa hướng dẫn đồng bào từ bỏ lối sống du canh du cư, ra khỏi hang đá làm nhà, khai nương rẫy, trồng lúa, trồng hoa màu. Khi phỉ huy động hai trung đội đến cưỡng ép dân di cư theo chúng, Hồ Phòm đã mưu trí tổ chức dân quân và đồng bào dùng cung nỏ, giáo mác, bẫy đá đánh trả quyết liệt, buộc địch thất bại nặng nề, giữ vững bản làng.

Trong những năm 1965 – 1966, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ khiến đồng bào hoảng loạn, bỏ bản chạy sâu vào rừng, lâm vào cảnh đói khát. Hồ Phòm được giao phụ trách tổ đi tìm dân. Với sáng kiến dùng kèn, tù và làm tín hiệu gọi người, đồng chí đã tập hợp được bà con từ khắp rừng đá trở về, giúp ổn định đời sống, tổ chức sản xuất và phòng tránh máy bay địch. Dưới sự hướng dẫn tận tình của đồng chí, sáu bản dần hồi sinh, trong đó bản Cà Oi trở thành điển hình của huyện về bảo vệ trị an, sản xuất và đời sống văn hóa – xã hội.

Không chỉ giỏi vận động quần chúng, Hồ Phòm còn khéo léo trong xử lý phong tục, tập quán của đồng bào. Khi địch đánh phá ác liệt Cha Lo, nhiều người không chịu sơ tán hay xuống hầm tránh bom B.52, đồng chí đã nêu gương bằng chính gia đình mình, khiến bà con tin theo, nhờ đó bảo toàn được tính mạng và tài sản. Đồng chí còn xây dựng được mạng lưới cung cấp tin tức rộng khắp, kịp thời phát hiện kẻ xấu, đấu tranh chống luận điệu phản động, giải quyết mâu thuẫn lâu đời giữa hai dân tộc Khùa và Mày, bồi dưỡng và giới thiệu nhiều quần chúng ưu tú vào Đảng.

Với những cống hiến to lớn ấy, Hồ Phòm được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, nhiều bằng khen, nhiều năm liền là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 25/8/1970, đồng chí vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí xin phục viên, trở về cuộc sống giản dị giữa đồng bào thân yêu. Anh hùng Hồ Phòm qua đời năm 2000, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông mãi là ngọn lửa sáng trong “Câu chuyện thời hoa lửa”, nhắc nhớ các thế hệ hôm nay và mai sau về sức mạnh của lòng dân, của niềm tin son sắt vào Đảng và cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn