Anh hùng Lực lượng vũ trang KHÚC CA DƯỚI GẦM CẦU VÀ NGƯỜI THỢ HÀN KHÔNG MỆT MỎI: CHUYỆN VỀ LIỆT SĨ PHẠM VĂN ĐỨC
Anh hùng Lực lượng vũ trang KHÚC CA DƯỚI GẦM CẦU VÀ NGƯỜI THỢ HÀN KHÔNG MỆT MỎI: CHUYỆN VỀ LIỆT SĨ PHẠM VĂN ĐỨC
Phạm Văn Đức sinh năm 1951 trong một gia đình thợ mộc nghèo. Vốn có tay nghề cơ khí khéo léo, đôi bàn tay chai sần quen với việc gò hàn kim loại, năm 1969, khi vừa tròn 18 tuổi, Đức viết đơn tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong chuyên trách đường sắt. Nhờ chuyên môn kỹ thuật, anh được biên chế về Đại đội Cầu đường thuộc Binh chủng Công binh, trực tiếp chiến đấu tại các trọng điểm cầu phao, cầu sắt trên tuyến lửa khu vực Thanh Hóa - Nghệ An. Nhiệm vụ của Đức là dùng đèn khò, máy hàn điện và búa tạ để nhanh chóng khắc phục những đoạn đường ray bị bom đạn địch uốn cong, đứt gãy.
Đêm hàn ray trên tọa độ tử thần
Mùa mưa lũ năm 1972, tuyến đường sắt huyết mạch qua khu vực cầu Hàm Rồng và các vùng lân cận chịu sự oanh tạc dữ dội ngày đêm của máy bay Mỹ. Hàng ngàn tấn bom đạn cày xới làm sập các dầm cầu sắt lớn, uốn cong hàng loạt thanh ray như những dải lụa mềm. Đêm 12/10/1972, ngay sau một trận oanh tạc ác liệt của máy bay B.52, một đoạn cầu trọng điểm bị đứt gãy nặng nề, làm gián đoạn toàn bộ đoàn tàu chở đạn dược ra mặt trận. Nhận lệnh khắc phục khẩn cấp trước khi trời sáng, Đức cùng tiểu đội công nhân lao thẳng ra hiện trường dưới làn mưa pháo sáng rực trời. Bất chấp hiểm nguy từ bom nổ chậm quanh khu vực, Đức miệt mài dùng đèn khò cắt bỏ những đoạn sắt thép bị biến dạng, sau đó trực tiếp hàn nối những thanh ray mới vào vị trí cũ với độ chính xác tuyệt đối.
Khúc tráng ca vĩnh hằng bên nhịp cầu Tổ quốc
Khi công việc hàn gắn đoạn ray cuối cùng vừa hoàn tất, chuẩn bị đón chuyến tàu hỏa chở đoàn quân tiếp viện vượt qua, một tốp máy bay trinh sát địch bất ngờ quay đầu trút một loạt rốc-két và bom tọa độ xuống ngay vị trí mố cầu. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, nhận thấy người đồng đội trẻ tuổi chưa kịp nhảy xuống hốc đá ẩn nấp, Phạm Văn Đức đã không ngần ngại lao tới đẩy đồng đội ngã nhào xuống hào sâu, còn bản thân anh trực tiếp gánh chịu sức ép kinh hoàng từ loạt đợt bom nổ sát vách. Phạm Văn Đức anh dũng hy sinh vào một đêm thu tháng 10/1972 khi vừa tròn 21 tuổi, đôi bàn tay chai sần vẫn đang nắm chặt chiếc kìm hàn. Sự hy sinh thầm lặng của anh đã bảo vệ vững chắc huyết mạch giao thông, là bản hùng ca bi tráng về lòng dũng cảm và sự tận hiến của những người thợ đường sắt năm xưa.


