Bài viết

Anh hùng lực lượng vũ trang La Văn Cầu

Khi nhắc đến lịch sử Việt Nam, chúng ta thường nhớ đến những mốc thời gian, những trận đánh lớn. Nhưng có những câu chuyện về con người mà khi nghe xong, ai trong chúng ta cũng thấy xúc động và tự hào. Đó chính là câu chuyện về cụ La Văn Cầu – một người con của vùng đất Cao Bằng, cụ là người dân tộc Tày, sinh năm 1932 tại xã Đình Phong và lớn lên ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), người đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn rất trẻ, chỉ xấp xỉ tuổi chúng mình bây giờ.

Lâm Đồng23/05/2026Nguyễn Trần Thiên Kim (Trường Đại học Đà Lạt)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi nhắc đến lịch sử Việt Nam, chúng ta thường nhớ đến những mốc thời gian, những trận đánh lớn. Nhưng có những câu chuyện về con người mà khi nghe xong, ai trong chúng ta cũng thấy xúc động và tự hào. Đó chính là câu chuyện về cụ La Văn Cầu – một người con của vùng đất Cao Bằng, cụ là người dân tộc Tày, sinh năm 1932 tại xã Đình Phong và lớn lên ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), người đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn rất trẻ, chỉ xấp xỉ tuổi chúng mình bây giờ.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó, ngay từ nhỏ cụ đã tận mắt chứng kiến nỗi khổ cực của người dân dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, từ đó trong lòng cụ sớm nhen nhóm một tinh thần yêu nước và ý chí căm thù giặc sâu sắc. Vì quá khao khát được đứng vào hàng ngũ bảo vệ Tổ quốc, cụ đã quyết định khai tăng thêm 2 tuổi để đủ điều kiện đi bộ đội. Kể từ đó, cụ đã bước vào con đường cách mạng với một tinh thần chiến đấu vô cùng kiên cường và dũng cảm. Cụ sẵn sàng quên thân mình, xả thân vì nền độc lập, tự do của dân tộc và liên tiếp lập nên những chiến công xuất sắc, trở thành một biểu tượng sáng ngời cho thế hệ trẻ chúng ta học tập.

Mọi chuyện bắt đầu vào năm 1947, khi ấy cụ mới chỉ 17 tuổi. Ở cái tuổi mà chúng mình còn đang lo lắng về kỳ thi đại học, thì ông cụ đã xung phong vào tổ xung kích để đi đánh giặc. Trong một trận phục kích trên Đường số 4, cụ đã chứng tỏ mình là một người cực kỳ dũng cảm. Giữa lúc quân Pháp bắn trả dữ dội, cụ không hề sợ hãi mà lao lên như một mũi tên. Cụ đã hạ gục tên lính trên xe tăng chỉ bằng một viên đạn chính xác, rồi nhảy lên cướp súng để đánh lại kẻ thù. Chỉ trong một trận đánh, ông đã loại khỏi vòng chiến đấu 7 tên địch. Đối với một người thanh niên mới 17 tuổi, đó là một chiến công thực sự kinh ngạc, cho thấy lòng yêu nước của ông cụ đã lớn lao đến nhường nào. Đến đầu năm 1950, khi quân ta mở chiến dịch đánh đồn Đông Khê lần thứ nhất, cụ La Văn Cầu dù đã bị thương nhưng vẫn nhất quyết xin ở lại chiến đấu. Không chỉ cầm súng, cụ còn là người anh lớn luôn chăm sóc đồng đội. Khi thấy anh em bị thương, cụ không ngần ngại cõng từng người về nơi an toàn. Thậm chí, ngay cả khi đang bị thương, ông vẫn cùng đồng đội vác khẩu súng nặng nề thu được của địch vượt qua vòng vây. Tinh thần "không bỏ rơi đồng đội" của cụ thực sự là bài học lớn về tình đoàn kết mà thế hệ ngày nay cần phải học tập. Nhưng câu chuyện khiến tên tuổi của cụ La Văn Cầu đi vào huyền thoại chính là trận đánh Đông Khê lần thứ hai. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp ra trận để cổ vũ tinh thần chiến sĩ. Trong trận đánh này, cụ được giao nhiệm vụ vô cùng quan trọng là chỉ huy tổ bộc phá để phá hủy lô cốt địch. Trận chiến diễn ra rất ác liệt, các đồng đội của cụ lần lượt bị thương, bản thân cụ cũng bị đạn bắn nát cánh tay phải và ngất đi.

Khi tỉnh dậy, giữa làn đạn xối xả, cụ thấy cánh tay mình đã gãy lìa, vướng lủng lẳng rất đau đớn. Nhưng nhìn thấy mục tiêu chỉ còn cách vài mét và nhiệm vụ vẫn chưa hoàn thành, ông cụ đã đưa ra một quyết định mà đến tận bây giờ nghe lại chúng ta vẫn thấy rùng mình vì cảm phục: Cụ nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay phải của mình để bớt vướng víu. Chỉ còn một cánh tay trái, ông cụ vẫn ôm khối bộc phá 12kg lao thẳng về phía trước. Khi địch dùng súng đẩy khối bộc phá ra, cụ đã dùng chính ngực mình để ép nó vào lỗ châu mai rồi giật kíp nổ. Tiếng nổ lớn vang lên đã san phẳng lô cốt địch, mở đường cho quân ta tiến lên giành thắng lợi. Sau trận đánh, dù mất máu rất nhiều nhưng cụ vẫn kiên cường tự mình đi bộ về trạm y tế để nhường cáng cho những người bị thương nặng hơn. Sự hy sinh đó thực sự nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Với những chiến công phi thường ấy, năm 1951 cụ được gặp Bác Hồ và sau đó trở thành một trong những người đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này, dù chỉ còn một cánh tay, ông vẫn luôn nỗ lực rèn luyện, học tập và sống một cuộc đời vô cùng giản dị, khiêm nhường.

Các cụ nói "Giàu hai con mắt khó đôi bàn tay", đối với Anh hùng La Văn Cầu cũng thế, tay phải là tay làm tay ăn, mất tay phải rồi tay trái phải cáng cho tay phải. Mặc dù có sự bất tiện, khó khăn, song ngày tháng trôi qua, ông nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, từ bắn súng tới cuốc đất ông đều làm được. Ông luôn xác định mình phải tự lực, cái nào khó quá mới nhờ, bởi lẽ đó là cuộc sống, không thể ỷ lại vào người khác. Phẩm chất kiên cường, tự lực của ông đại diện cho phẩm chất của bao thế hệ bộ đội Cụ Hồ. Trong cuộc sống, ông luôn lạc quan, với nghị lực, sự kiên cường, mọi khó khăn ông đều vượt qua. Câu chuyện của cụ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc rằng: Tuổi trẻ là để cống hiến và không có khó khăn nào là không thể vượt qua nếu chúng ta có đủ lòng quyết tâm và tình yêu quê hương. Cụ mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc và là ngọn lửa sưởi ấm tinh thần cho thế hệ trẻ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn