Anh hùng Lực lượng Vũ Trang Nguyễn Văn Lập - Người lính Hy Lạp mang trái tim Việt Nam
* LỜI NÓI ĐẦU
“Đánh mà thắng địch là giỏi.
Không đánh mà thắng địch càng giỏi hơn.
Không đánh mà thắng địch là nhờ địch vận”.
Đây là một câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về công tác địch vận. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, chiến lược "tâm công" (đánh vào tinh thần) của các bậc tiền nhân đã được Bác Hồ và Đảng ta phát triển lên một tầm cao mới và được quân và dân ta sử dụng hết sức hiệu quả. Địch vận là một chiến thuật cực kỳ đặc biệt khi mà chúng ta không cần dùng đến gươm, đến súng. Công tác địch vận chỉ có một mục tiêu duy nhất: Tuyên truyền, vận động những binh lính ở phe địch, làm cho họ nhận ra được sự vô nghĩa của cuộc chiến họ đang tham gia, để rồi bị khuất phục tư tưởng và buông vũ khí, không còn muốn tiếp tục chiến đấu nữa. Cùng với năm mũi tiến công của các binh đoàn chủ lực, mũi đấu tranh công tác địch vận cũng đã được đẩy mạnh, xem đó như là “mũi tiến công thứ sáu”, góp phần không nhỏ trong thắng lợi của ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm.
Đến với cuộc thi “Câu Chuyện Thời Hoa Lửa”, em xin mang đến câu chuyện về một chiến sĩ hàng binh đặc biệt, một người lính da trắng của Bác Hồ, người nước ngoài duy nhất được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam, ông Kostas Sarantidis, hay còn được biết đến với cái tên Nguyễn Văn Lập.
Bác Hồ nói về công tác địch vận. Ảnh: Xuân Duy
Sinh ra trên bờ biển Địa Trung Hải xa xôi, song cả tuổi thanh xuân chàng trai ấy đã sống, chiến đấu và cống hiến bên những đồng đội, đồng chí tại Việt Nam. Việt Nam trở thành quê hương, tổ quốc với trọn vẹn nghĩa tình nơi ông. Người đó là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập.
Ông Nguyễn Văn Lập, sinh năm 1927, tên khai sinh là Kostas Sarantidis, là một chiến sĩ người Hy Lạp –Việt Nam. Sinh ra trên bờ biển Địa Trung Hải xa xôi, song cả tuổi thanh xuân chàng trai Kostas năm ấy đã sống, đã chiến đấu và cống hiến bên những đồng đội, đồng chí tại Việt Nam. Việt Nam đã trở thành quê hương, tổ quốc với trọn vẹn nghĩa tình nơi ông. Ông Kostas là người nước ngoài duy nhất từ trước tới nay được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân của Việt Nam. Ông là một chiến sĩ “Việt Nam mới”, người Hy Lạp duy nhất từng hoạt động trong lực lượng Việt Minh thời chiến tranh Đông Dương.
Xuất thân từ một gia đình công nhân ở Hy Lạp. Khi mới 16 tuổi, năm 1943, ông cùng những người Hy Lạp khác bị Đức Quốc xã bắt đi lính và đưa sang phục vụ lực lượng phát xít Đức. Ông trốn thoát và sống tạm trên những chuyến tàu qua lại biên giới Nam Tư - Hy Lạp.
Sau khi chấm dứt Thế chiến thứ hai, vì không có giấy tờ tùy thân, ông Kostas không thể trở về quê nhà Hy Lạp. Đầu năm 1946, đứng giữa hai lựa chọn: một là bị trở thành tù nhân ở trại tập trung tại Ý, hai là gia nhập quân Lê dương Pháp. Ông Kostas đã chọn con đường tham gia quân đội Lê dương. Quân Lê dương lúc bấy giờ đang hướng tới Đông Dương với lời mô tả rằng, đây là một “sứ mệnh” giải phóng cho các dân tộc tại đó, giải giáp phát xít Nhật.
Tháng 1 năm 1946, ông Kostas cùng quân Lê dương được đưa lên tàu để tới Việt Nam. Quân Pháp không nói rõ ràng những gì họ sẽ làm khi đặt chân đến Việt Nam, chỉ nói rằng sang đây để làm trật tự, bảo vệ an ninh cho người Pháp tại đây.
Ông Kostas kể lại, sau khi tới nhà ga, ông đã chứng kiến cảnh một cậu bé bán hàng rong tại đây bị một tên cảnh sát Lê dương đá và đuổi đi. Ông ngay lập tức phản đối với tên lính Lê dương: “Tại sao chúng mày làm thế ?”. Tên Lê dương nhìn ông, vừa cười vừa trả lời: “Mày mai kia sẽ làm thế.”. Lúc đó, ông Kostas rất ngạc nhiên. Ông mơ hồ nghĩ, “làm thế” là như nào ? Chẳng lẽ sau này mình sẽ trở thành lũ tàn nhẫn đi đuổi đánh trẻ con hay sao ?
Nhiều ngày sau đó, ông liên tục phải chứng kiến thêm nhiều những hành động tàn ác của quân Pháp đối với người dân nơi đây. Chúng không hề tham gia vào các trận đánh của miền Nam Việt Nam. Những việc chúng làm chỉ có cướp bóc, càn quét và đốt phá để phô trương sức mạnh. Đỉnh điểm nhất, trong một đợt đi tuần tiêu tại Phan Thiết, chính mắt ông Kostas đã tận mắt chứng kiến thấy cảnh cả trung đội hãm hiếp một cô gái chỉ chừng 15 tuổi. Trong ông sục sôi một cảm giác căm ghét đến tận xương tủy. Ông giương thẳng cây súng, nhằm vào những tên khốn nạn trước mặt mà bắn. Nhưng ngay khi ông chuẩn bị bóp cò, một người bạn của ông tên Merinos đã nhanh tay kéo để ngăn ông lại. Ông Kostas kể lại rằng, nếu Merinos không kịp thời ngăn ông lúc đó, có lẽ ông đã giết hết những tên Lê dương trước mặt rồi.
Sự việc vừa rồi như một giọt nước tràn ly. Không thể chịu đựng thêm những ngày ở hàng ngũ Lê dương nữa, ông phải tìm một lối thoát khỏi nơi đây. Dù cho có phải hy sinh, ông cũng xin chấp nhận, nhất quyết không đi theo con đường tội ác.
Ngã rẽ quan trọng nhất cuộc đời đã đến với ông trong một đợt đóng quân tại Mũi Né, Bình Thuận. Ông gặp được một cô gái tên Mai Lê (lúc bấy giờ ông gọi là cô Ly Ly). Bố mẹ cô đều là những người yêu nước đã hy sinh khi tham gia kháng chiến. Dù tuổi đời còn trẻ, nhưng Mai Lê và các bạn học đã rời thành phố để tham gia vào cuộc kháng chiến. Lúc đó, cô Mai Lê đang là vợ của một tên sĩ quan Pháp. Hắn là đồn trưởng tại Phan Thiết - thiếu úy Christianis. Ở bề ngoài, cô Mai Lê vẫn diễn vai như một người vợ của tên đồn trưởng, nhưng thực chất, cô đang là một tình báo trong hàng ngũ của Việt Minh ta.
Cô Mai Lê đã giải thích cho ông Kostas hiểu được phần nào biết đến Việt Minh là gì. Biết rằng họ là những người yêu nước chân chính, khát khao giải phóng quê hương mình, chứ không phải như những gì người Pháp tuyên truyền trước đó, ông đã rất mong muốn được tham gia. Cô Mai Lê đã giúp đỡ ông Kostas rất nhiều trong hành trình móc nói với cơ sở của Việt Minh. Về sau, khi hoạt động tình báo của cô bị phe địch phát hiện, cô đã bị hành quyết vào tháng 7 năm 1946. Sự hy sinh thầm lặng của cô Mai Lê đã khiến ông Kostas khâm phục.
Tháng 4 năm 1946, ông Kostas cùng người bạn Merinos của ông đã thực hiện một kế hoạch cực kỳ táo bạo tại nhà tù nơi quân địch giam giữ các tù nhân phe ta. Trong một hôm làm việc tại đây, khi tên cai ngục đi bố trí mìn xung quanh các hàng rào, ông Kostas đã xung phong tham gia cùng thực hiện. Khi đi sắp xếp mìn, ông đã cố ý để một chỗ hở tại nơi mà tên cai ngục Pháp không để ý đến. Nhằm tạo đường máu cho tù nhân vượt ngục.
2 giờ sáng ngày 6 tháng 4 năm 1946, ông và Merinos mở cửa trại giam, dẫn từng người đi qua chỗ hở mà ông đã sắp xếp từ trước. Tổng cộng 25 tù nhân, cùng với ông và Merinos đã trốn thoát, mang theo một khẩu súng máy Bren, hai khẩu súng trường, hai hộp lựu đạn và một thùng đạn. Đoàn của ông đi bộ hai ngày thì gặp được nơi lực lượng Việt Minh đang đóng quân kháng chiến. Khi đến nơi, bên cạnh việc trao trả lại cho quân ta các chiến sĩ đã bị bắt làm tù binh, ông cũng gửi tặng lại toàn bộ số lượng vũ khí mà ông đã mang theo được. Lúc bấy giờ, trang bị của lực lượng Việt Minh tại nơi đây đang rất thiếu thốn, khi nhận được số vũ khí của ông Kostas, các chiến sĩ của ta đã rất vui mừng, giết thịt một con bê để chiêu đãi ông.
Gia nhập hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam, hai chiến sĩ quốc tế Kostas Sarantidis và Santo Merinos được quân ta đặt cho hai cái tên thân thương mà gần gũi là Nguyễn Văn Lập và Nguyễn Văn Vĩ.
Ông Lập cùng các đồng đội. Ảnh: VTV4.
Ông Lập kể lại, người Việt Nam gọi những chiến sĩ như ông bằng nhiều cái tên lắm. Nào là “Người Tân Việt”, “Người Việt Nam mới”, “Hàng binh” hay “Chiến sĩ Hòa bình”. Trong số những cái tên đó, ông thích nhất là tên “Người Việt Nam mới”, vì đối với ông, cái tên đó cho ông được cảm giác bản thân mình đã thực sự trở thành người Việt Nam rồi.
Trong thời gian hoạt động cách mạng, có một câu khẩu hiệu kháng chiến của quân ta đó là “Tự do hay là chết”. Ông Lập rất thấm thía với câu khẩu hiệu này, vì đó cũng chính là khẩu hiệu của quê hương ông, đất nước Hy Lạp.
Ông hoạt động trong các đơn vị chính quy Liên khu 5. Tại chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, chiến sĩ Nguyễn Văn Lập đã được đơn vị tin tưởng và giao phó để thực hiện công tác địch vận. Hoạt động chính trong công tác địch vận tại đây là phát thanh vào đồn quân Pháp đã tỏ ra rất hiệu quả, khi đã kêu gọi được 40 lính Lê dương đầu hàng, quyết định rời bỏ hàng ngũ của Pháp, cũng như cứu sống được 120 chiến sĩ của ta đang bị địch giam giữ.
Có được thành tích tốt trong công tác địch vận, ông Lập tiếp tục được đơn vị giao cho làm Tổng giám thị tại trại tù binh Âu Phi số 3 Quảng Ngãi. Tại đây, ông đã thực hiện rất tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, cảm hóa cho những tù nhân nơi đây hiểu rõ tình chính nghĩa của Việt Nam chống xâm lược, cũng như chính sách nhân đạo của chính phủ kháng chiến. Nhiều tù binh đã tỏ lòng cảm phục và biết ơn sâu sắc về việc chăm sóc và giáo dục của trại.
Với những chiến công trong việc bắn rơi máy bay địch, tiêu diệt hàng trăm quân Pháp cùng đồng đội, cũng như các chiến công công tác địch vận, ngày 19 tháng 5 năm 1949, chiến sĩ Nguyễn Văn Lập đã được vinh dự kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.
Chiến sĩ Kostas Nguyễn Văn Lập. Ảnh: VTV4.
Từ năm 1965, ông Lập trở về sống và làm việc tại Hy Lạp cùng với người vợ Việt Nam, bà Đỗ Thị Chung. Ông cùng vợ đã có với nhau 4 người con, tất cả đều được vợ chồng ông đặt cho những cái tên Việt Nam: Văn Thành, Bạch Tuyết, Bạch Nga và Tự Do. Ông có một người cháu được ông đặt tên là Minh, được lấy theo tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì cháu được sinh vào ngày 19 tháng 5. Bác Hồ luôn là người mà ông Lập kính trọng nhất. Ông nói rằng, đối với ông, Bác là một người Thánh, chứ không phải người thường.
Ông Lập cùng con gái. Ảnh: VTV4.
Dù đã trở về Hy Lạp, nhưng tình cảm gắn bó đặc biệt mà ông dành cho đất nước và nhân dân Việt Nam mãi không phai mờ. Ở tại quê hương, ông là người đã thành lập Hội Hữu nghị Hy – Việt. Ngày 9 tháng 11 năm 2010, chiến sĩ quốc tế Kostas Nguyễn Văn Lập được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao Huân chương Hữu nghị và quyết định công nhận quốc tịch Việt Nam.
Với thành tích xuất sắc trong chiến đấu và công tác, tấm lòng sắc son, thủy chung trước sau như một, thể hiện tinh thần quốc tế cao cả của một chiến sỹ vô sản. Ngày 23 tháng 5 năm 2013, ông trở thành người nước ngoài đầu tiên và duy nhất đến nay được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ Trang Nhân dân Việt Nam.
“Khi sang Việt Nam, tôi hứa trước lá cờ, sẽ trung thành đến phút cuối cùng. Mong các cháu sau này sẽ tiếp tục giữ gìn.”
Trước chuyến thăm Việt Nam năm 2013, sức khỏe của ông Lập đã khá yếu. Bác sĩ đã khuyên ông không nên đi để đảm bảo sức khỏe, nhưng ông vẫn nhất quyết muốn đi. Ông nói rằng, nếu tôi có ra đi, được ra đi ở đất nước Việt Nam, tôi cũng thanh thản.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tặng Huân chương Hữu nghị và quyết định
Quốc tịch Việt Nam cho ông Kostas Sarantidis. Ảnh: Nguyễn Khang
“Các con à, bố nhắc lại là, nếu bố chết, thì nên chôn tại Việt Nam. Điều này bố đã bàn với mẹ các con. Ký tên: Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập.”. (Trích: Di chúc của AHLLVT Kostas Nguyễn Văn Lập).
Ngày 25 tháng 6 năm 2021, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Lập đã qua đời tại Athens, Hy Lạp. Nhưng do diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, gia đình chưa thể đưa ông về an táng tại Việt Nam theo như di nguyện ông đã để lại. Trong lễ tang của ông, đến dự có Đại sứ Lê Hồng Trương cùng các cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Hy Lạp. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng đã gửi điện chia buồn đến gia đình ông.
Khi dịch bệnh đã qua đi, ngày 2 tháng 8 năm 2022, tro cốt của ông Lập đã được đưa về Việt Nam. Ông được an táng tại Nghĩa trang Quân khu 5, chính tại vùng đất năm xưa mà ông và đồng đội đã cùng kề vai sát cánh chiến đấu cho đất nước Việt Nam. Sau một năm kể từ ngày từ trần, di nguyện được nằm lại mãi mãi trên mảnh đất Việt Nam đã trở thành hiện thực.
* TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hồi ký “Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi”, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023.
Di chúc của Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Kostas Nguyễn Văn Lập.
Phim tài liệu “Giữa những quê hương”, VTV, 2020.
Nguyễn Văn Lập – Wikipedia Tiếng Việt.
Phóng sự “Vĩnh biệt anh hùng Kostas Nguyễn Văn Lập, Tổ quốc ôm ông vào lòng”, VTV24, 2022.
Cuộc đời đẹp của Anh hùng LLVT Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập, Tác giả Trần Thanh Tuấn, BaoTinTuc, 2021.
“Viet Kostas - Ypikootis: Akathoristos”, đạo diễn Giannis Tritsibidas, 2014.


