Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bế Văn Đàn

Bài viết khắc họa tấm gương chiến đấu dũng cảm và sự hy sinh lẫm liệt của Anh hùng Bế Văn Đàn trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Qua hành động lịch sử "lấy thân mình làm giá súng", bài viết làm nổi bật tinh thần quả cảm, sẵn sàng xả thân vì độc lập dân tộc của quân và dân ta, đồng thời là bài học quý giá thức tỉnh trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với đất nước

Thái Nguyên13/06/2026Bế Văn Đàn (Khoa Quốc tế- Trường Đại học Kỹ thuật Công Nghiệp- ĐHTN)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một bản hùng ca bất diệt, được viết nên bởi máu xương và lòng yêu nước nồng nàn của biết bao thế hệ. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đã có vô vàn những tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Lớp lớp thanh niên đã gác lại tuổi thanh xuân, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật trong bức tranh bi tráng và hào hùng ấy, bên cạnh những chiến công vang dội, là hình ảnh Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bế Văn Đàn – người chiến sĩ đã tạc vào lịch sử dân tộc bức tượng đài bất tử với hành động "lấy thân mình làm giá súng".

Bế Văn Đàn sinh năm 1931, là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Lớn lên trong bối cảnh quê hương chìm trong ách đô hộ của thực dân Pháp, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, người thanh niên trẻ tuổi đã sớm nuôi dưỡng lòng căm thù giặc sâu sắc và khát vọng giải phóng quê hương. Tháng 1 năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước vào giai đoạn quyết liệt, Bế Văn Đàn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Từ một người nông dân chất phác, anh nhanh chóng trở thành một người lính dũng cảm, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, từ liên lạc chiến trường đến trực tiếp cầm súng chiến đấu.

Sự kiện lịch sử đã khắc ghi vĩnh viễn tên tuổi của Bế Văn Đàn là trận đánh tại Mường Pồn, Lai Châu vào tháng 12 năm 1953. Lúc này, thực dân Pháp đang ra sức tăng cường lực lượng, thả lính dù xuống Mường Pồn nhằm tạo bàn đạp uy hiếp các vùng tự do của ta và củng cố tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đơn vị của Bế Văn Đàn được giao nhiệm vụ bao vây, tiêu diệt cánh quân địch tại đây. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt ngay từ những phút đầu tiên. Quân Pháp với ưu thế tuyệt đối về hỏa lực và không quân yểm trợ đã tổ chức nhiều đợt phản kích dữ dội, hòng đẩy lùi lực lượng của bộ đội ta.

Trong bối cảnh khốc liệt đó, khẩu trung liên của đồng chí Chu Văn Pù – hỏa lực mạnh nhất của đơn vị ta lúc bấy giờ – lại gặp khó khăn. Địa hình chiến đấu tại Mường Pồn khá bằng phẳng, không có điểm tựa vững chắc để đặt súng, khiến đường đạn bị hạn chế, không thể chế áp được các đợt tiến công liên tiếp của bộ binh địch. Nhận thấy tình thế vô cùng nguy cấp, bộ đội ta có nguy cơ thương vong lớn nếu không kịp thời chặn đứng hỏa lực quân thù, Bế Văn Đàn đã đưa ra một quyết định lịch sử.

Mặc dù trước đó đã bị thương và đang chảy nhiều máu, anh vẫn nghiến răng chịu đựng, dũng cảm xông lên phía trước. Không một chút ngần ngại, Bế Văn Đàn nhặt lấy hai chân của khẩu trung liên, đặt lên đôi bờ vai nhỏ bé của mình và kiên quyết ra lệnh cho đồng đội: "Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi!". Lời nói ấy không chỉ là mệnh lệnh chiến đấu dứt khoát trên chiến trường, mà còn là tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, là sự ủy thác sinh mạng của chính mình cho đồng chí để đổi lấy chiến thắng chung cho toàn đơn vị.

Nước mắt lưng tròng, Chu Văn Pù siết cò súng. Từ trên đôi vai vững chãi của Bế Văn Đàn, những loạt đạn trung liên nổ giòn giã, dội bão lửa vào đội hình quân địch, bẻ gãy đợt phản kích nguy hiểm nhất của chúng. Nhờ hỏa lực yểm trợ kịp thời và chính xác, bộ đội ta đã xông lên tiêu diệt gọn cánh quân dù Pháp tại Mường Pồn. Tuy nhiên, trong lúc làm giá súng, Bế Văn Đàn đã trúng đạn và anh dũng hy sinh. Anh ngã xuống khi tuổi đời mới 22 – độ tuổi đẹp nhất của thanh xuân, nhưng tư thế oai hùng của anh thì đứng lại mãi mãi với non sông.

Hành động "lấy thân mình làm giá súng" của Bế Văn Đàn không chỉ là minh chứng cho lòng dũng cảm phi thường mà còn là biểu tượng rực rỡ của tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". Sự hy sinh ấy đã tiếp thêm sức mạnh vô song, trở thành lời hiệu triệu thôi thúc hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trên khắp các mặt trận tiến lên, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu vào năm 1954. Để ghi nhận công lao to lớn đó, năm 1955, anh đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Là một sinh viên đang sống trong thời bình, được học tập và phát triển dưới bầu trời tự do, tôi càng thấu hiểu sâu sắc rằng cái giá của hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ đi trước. Tấm gương hy sinh của Anh hùng Bế Văn Đàn là một bài học vô giá về lòng yêu nước. Nhìn lại quá khứ hào hùng, thế hệ trẻ chúng ta mang trên vai trách nhiệm lịch sử mới: ra sức học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh. Đó chính là cách thiết thực nhất để tri ân những người anh hùng đã hóa thân vào dáng hình xứ sở.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn