ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN BẾ VĂN ĐÀN
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bế Văn Đàn sinh năm 1931 tại xã Quang Trung, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, trong một gia đình nông dân nghèo thuộc dân tộc Tày giàu truyền thống cách mạng. Sớm mồ côi mẹ, cha lại qua đời vì bạo bệnh và sự bóc lột của thực dân phong kiến, ông phải đi ở muôi, làm thuê từ nhỏ, chính hoàn cảnh cơ cực ấy đã hun đúc trong người thanh niên vùng cao lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí tự giải phóng. Tháng 1 năm 1948, khi vừa tròn 17 tuổi, Bế Văn Đàn hăng hái xung phong nhập ngũ, tham gia nhiều chiến dịch lớn và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ chiến sĩ bộ binh, liên lạc đến tiểu đội phó nhờ tinh thần dũng cảm, kiên cường và hết lòng thương yêu đồng đội. Trong chiến dịch Đông Xuân 1953 – 1954, với cương vị liên lạc trưởng của đại đội thuộc Trung đoàn 101, Đại đoàn 325, ông đã bất chấp bom đạn hiểm nguy để giữ vững mạch máu thông tin giữa các đơn vị trên mặt trận ác liệt. Cống hiến vĩ đại nhất của Bế Văn Đàn diễn ra vào ngày 12 tháng 12 năm 1953 tại trận Mường Pồn, tỉnh Lai Châu, khi đại đội của ông bị quân Pháp bao vây và phản công điên cuồng khiến lực lượng ta thương vong lớn. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khẩu súng trung liên của đồng đội Chu Văn Pù không thể khai hỏa vì thiếu chỗ đặt súng, Bế Văn Đàn đã không hề do dự lao đến, nhấc hai chân súng đặt lên vai mình và kiên quyết giục đồng đội bắn trả quân thù. Khẩu súng trên vai ông liên tiếp khạc lửa đẩy lùi các đợt tiến công của địch, nhưng cũng chính lúc đó, do vết thương quá nặng cùng sức ép dữ dội từ luồng đạn, người chiến sĩ trẻ đã anh dũng hy sinh ngay tại trận địa ở tuổi 22 khi hai tay vẫn ghì chặt chân súng. Sự hy sinh oanh liệt của Bế Văn Đàn đã trở thành biểu tượng bất tử cho tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, trực tiếp cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn quân để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy. Để ghi nhận công lao to lớn này, ngày 31 tháng 8 năm 1955, ông đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cùng Huân chương Quân công hạng Nhì, và tên tuổi của ông mãi mãi được trân trọng đặt cho nhiều trường học, đường phố trên khắp cả nước như một minh chứng sống động về lòng yêu nước cho các thế hệ mai sau.



