Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - danh hiệu vinh dự cao quý
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là danh hiệu vinh dự cao quý của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Danh hiệu này được phong tặng hoặc truy tặng cho các cá nhân và tập thể có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, phẩm chất cách mạng. Đối với tập thể, ngoài những tiêu chí trên còn phải có nội bộ đoàn kết tốt, tổ chức Đảng và các đoàn thể trong sạch, vững mạnh.
Đặc biệt, có một anh hùng là người nước ngoài được công nhận danh hiệu này, đó là ông Kostas Sarantidis, người gốc Hy Lạp, sau này nhập quốc tịch Việt Nam.
Lịch sử hình thành và phát triển:
Để động viên, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, từ năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Hội Liên Việt đã chủ trương tổ chức Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua nhằm khích lệ, tuyên dương những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu và lao động sản xuất. Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức vào ngày 19 tháng 5 năm 1952 tại căn cứ địa Việt Bắc.
Tại Đại hội này, Tổng Bí thư Trường Chinh đã có bài phát biểu “Thi đua ái quốc với chủ nghĩa anh hùng mới”. Ông Hồ Viết Thắng, thay mặt Chính phủ và Mặt trận, đã báo cáo tình hình thi đua ái quốc, qua đó nêu lên khái niệm đầu tiên về danh hiệu Anh hùng chiến đấu và Anh hùng lao động. Nhiều tấm gương tiêu biểu cũng được giới thiệu tại Đại hội.
Sau Đại hội, ngày 10 tháng 8 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 107/SL tặng danh hiệu Anh hùng thi đua ái quốc cho 7 chiến sĩ thi đua, đồng thời ký Sắc lệnh số 108/SL tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho 24 chiến sĩ thi đua. Bảy cá nhân đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng gồm: bốn Anh hùng quân đội là Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, La Văn Cầu, Cù Chính Lan; và ba Anh hùng lao động là Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đã diễn ra thêm hai đợt tuyên dương Anh hùng quân đội vào các năm 1955 và 1956. Từ đó đến năm 1970, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục tổ chức thêm ba kỳ Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Tổng cộng đã có 289 cá nhân và 85 tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng (bao gồm cả Anh hùng quân đội và Anh hùng lao động).
Tại miền Nam, từ ngày 2 đến ngày 6 tháng 5 năm 1965, Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất được tổ chức với gần 150 đại biểu tham dự. Tại đây, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang đã tuyên dương 23 Anh hùng lực lượng vũ trang, trong đó có hai phụ nữ tiêu biểu là Tạ Thị Kiều và Nguyễn Thị Út, cùng một số cá nhân dân tộc thiểu số như Hồ Đức Vai, Pinăng Tắc và Puih Thu. Hai năm sau, vào ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đại hội lần thứ hai được tổ chức và có thêm 47 cá nhân được phong tặng danh hiệu này.
Ngày 15 tháng 1 năm 1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Pháp lệnh quy định các danh hiệu vinh dự Nhà nước, trong đó có danh hiệu Anh hùng Lao động và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tiếp đó, Thông tư số 34-TTg ngày 11 tháng 3 năm 1970 của Thủ tướng Chính phủ đã hướng dẫn thực hiện. Từ đây, các danh hiệu Anh hùng được pháp điển hóa, và danh hiệu Anh hùng quân đội chính thức được đổi tên thành Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



