Bài viết

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Khuê

Đà Nẵng24/12/2025Chi đoàn trường Tiểu học Tây Hồ (Đoàn phường Hải Châu - Chi đoàn trường TH Tây Hồ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi gặp nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Khuê, người con gái kiên trung của xã Quế Phước - TP Đà Nẵng (trước đây là xã Quế Ninh, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) vào một ngày mưa lạnh. Dù đã bước qua tuổi bảy mươi nhưng ánh mắt bà vẫn ánh lên sự nhanh nhẹn, tinh anh của người giao liên gan dạ năm nào. Nhắc về những tháng ngày sống chết cùng đồng đội, bà không giấu được xúc động. Bà kể: “Tôi sinh năm 1952, trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng quê Quế Sơn. Tuổi thơ cơ cực, không được đến trường, phải chăn trâu, mò cua bắt ốc để phụ giúp cha mẹ. Chứng kiến cảnh Mỹ - ngụy đàn áp đồng bào, tôi hiểu rõ kẻ thù là ai và chọn con đường theo cách mạng.”Lướt qua bảng thành tích của bà mới thấy hết sự phi thường của một cô gái nhỏ bé: từ năm 1962 đến 1974, bà làm nhiệm vụ dẫn đường, đưa chỉ huy huyện Quế Sơn vượt thượng nguồn Thu Bồn xuống cơ sở hợp pháp để chỉ đạo đấu tranh; nhiều lần ngậm công văn trong miệng, giả điên, giả trẻ chăn trâu đi lạc để lọt qua mắt giặc; nhiều lần trực diện đối đầu khi địch càn quét, sẵn sàng cầm súng AK chấp nhận hy sinh để bảo vệ cán bộ. Những dòng ghi ngắn ngủi ấy là những lằn ranh sinh tử. Người ta thường nói: anh hùng không nhất thiết phải làm những điều lớn lao như thánh tướng; đôi khi sự vĩ đại nằm trong những hành động thầm lặng nhưng vô cùng dũng cảm của những con người bình dị. Năm 1962, khi mới 10 tuổi, Hồ Thị Khuê đã được giao nhiệm vụ làm liên lạc vì sự nhanh nhạy và giác ngộ sớm. Đến đầu năm 1966, địch đánh phá khốc liệt, dồn dân vào các khu tập trung Sơn Ninh, Sơn Thuận. Lúc đó, bà vừa làm giao liên xã Sơn Ninh (nay là xã Quế Phước), vừa tham gia chiến đấu, vừa lo bảo đảm lương thực cho đơn vị. Tuổi nhỏ nhưng lòng căm thù giặc đã giúp bà vượt qua mọi hiểm nguy, ngày đêm băng rừng, lội suối để nối liền mạch thông tin cách mạng trong những năm 1966 - 1967 ác liệt.

Tháng 1 năm 1968, bà được điều về làm chiến sĩ giao bưu huyện Quế Sơn, phụ trách địa bàn năm xã vùng Tây. Bà nhớ lại: địa hình hiểm trở, địch phục kích dày đặc; nhiều lần chúng càn quét chốt đèo Le, Chèo Bẻo, luồn sâu vào Ninh Long, Khương Ham. Để giữ vững đường dây liên lạc, bà phải xuyên rừng nhiều ngày liền, có lúc cải trang thành trẻ chăn trâu, khi lại giả người đi mua hàng để vượt qua các trạm kiểm soát. Một trong những trận đánh bà nhớ mãi diễn ra vào tháng 10 năm 1968. Trên đường dẫn đoàn thương binh từ Quế Sơn lên hậu cứ Quế Lộc, giữa đèo Le trong màn sương đêm, bà bất ngờ xáp mặt toán lính Mỹ. Không còn đường lựa chọn, bà lập tức nổ súng tiêu diệt tên đi đầu, báo động cho đoàn rút lui. Sau ba loạt đạn, bà ném lựu đạn M26 khiến địch hoảng loạn. Bà vừa tránh được làn đạn xối xả vừa dẫn đoàn thoát an toàn về phía Sơn Thạch. Trận này, bà diệt ba lính Mỹ và làm bị thương năm tên - chiến công được đơn vị tuyên dương, khi ấy bà mới 16 tuổi.

Năm 1969, địch tập trung đánh phá dữ dội vùng Trung Quế Sơn, chia cắt các xã, khiến việc liên lạc vô cùng nguy hiểm. Huyện ủy điều bà về phục vụ vùng này. Với sự mưu trí, bà nghiên cứu nhiều phương án cải trang, lúc làm trẻ chăn trâu, khi khóc lóc tìm em… để đánh lừa địch. Suốt nhiều tháng, bà đi như con thoi giữa Hòn Tàu, đèo Răm và các xã, chuyển 800 công văn và gần 2000 thư chỉ đạo của Huyện ủy đến chi bộ xã.Một lần, khi được giao mang tài liệu cho đồng chí Đỗ Ngọc Cán và đồng chí Hà Đông, bà giấu tài liệu trong bó cỏ, còn thư thì cuộn trong lá để phòng bất trắc cho vào miệng. Gặp lính Mỹ ở ngã tư Sơn Khánh, bà bình tĩnh ra hiệu là cắt cỏ cho bò ăn. Dù bị quất roi đau thấu, bà vẫn giữ bình tĩnh và vượt qua hàng loạt vị trí địch để chuyển tài liệu an toàn đến Hòn Tàu và đèo Răm. Tháng 4 năm 1969, mới 17 tuổi, bà được kết nạp Đảng - vinh dự lớn lao song cũng là trách nhiệm nặng nề.

Năm 1970, trong một lần chuyển tài liệu, bị địch tuần tra bất ngờ, bà lập tức cho tài liệu vào miệng ngậm, thoát qua kiểm tra. Tháng 5 cùng năm, trên đường chuyển công văn khẩn xuống Sơn Ninh, biết địch phục kích dọc hành lang, bà liều chọn hướng đi sát trụ sở địch - nơi chúng ít đề phòng. Khi bị gọi hỏi, bà nhanh nhẹn nằm rạp xuống mép đường, rồi chớp thời cơ nổ súng tiêu diệt hai tên ngụy, làm bị thương một tên và thoát hiểm trong đêm tối. Không chỉ công tác liên lạc, bà còn nhiều lần trực tiếp đối đầu với Mỹ - ngụy. Ở Nghi Sơn, khi đi cùng đoàn cán bộ y tế, gặp quân Mỹ bất ngờ, bà đã nổ súng mở đường, giúp cả đoàn thoát an toàn, diệt hai tên địch. Tháng 9 năm 1970, bà cứu đồng chí Trần Viết bị phục kích và bắn gãy tay. Giữa vòng vây trước - sau, hai bên đều có chốt địch, bà vừa băng bó cho đồng chí Viết, vừa chờ cơ hội ném lựu đạn, rồi dìu anh vượt qua vòng vây. Trận ấy, địch chết ba tên, bị thương hai. Một trận đánh khác thể hiện sự mưu trí của bà và đồng đội là trận ở núi Hòn Bon (9/11/1970). Nhận định địch sẽ tập kích, đội công tác chủ động bố trí đội hình chiến đấu. Khi pháo địch vừa dứt, lính Mỹ - ngụy tràn vào đúng như dự đoán. Ta nổ súng quyết liệt, tiêu diệt ba tên, thu nhiều vũ khí và rút lui an toàn. Đến năm 1973, bà được giao nhiệm vụ tiêu diệt tên Dũng - đại đội trưởng 743, kẻ ác ôn khét tiếng. Trong một lần công tác cùng đồng chí Nguyễn Ngọc Linh và Nguyễn Ngọc Tuấn, cả nhóm bị bao vây tại nhà bà Thiện. Địch kêu gọi đầu hàng. Bà lập tức nổ ba loạt AK mở đường máu, tiêu diệt hai tên, đưa cán bộ thoát ra ngoài an toàn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn