Người có công giúp đỡ cách mạng

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Văn Nghệ: Một thi tướng tài ba

hi tướng Huỳnh Văn Nghệ (Hoàng Hồ) sinh ngày 2-4-1914, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7 là một nhà chỉ huy quân sự tài ba, nhà thơ, nhà báo, văn võ song toàn, xông pha trận mạc, mưu trí can trường, quân thù nghe danh đã sợ bạt vía. Đồng đội, đồng bào luôn hướng về ông với sự ngưỡng mộ, cảm phục và gọi ông bằng cái tên thân thương, anh Tám Nghệ.

Lạng Sơn09/01/2026Trịnh Hoàng (Báo Bình Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ (Hoàng Hồ) sinh ngày 2-4-1914, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 7 là một nhà chỉ huy quân sự tài ba, nhà thơ, nhà báo, văn võ song toàn, xông pha trận mạc, mưu trí can trường, quân thù nghe danh đã sợ bạt vía. Đồng đội, đồng bào luôn hướng về ông với sự ngưỡng mộ, cảm phục và gọi ông bằng cái tên thân thương, anh Tám Nghệ.

Huỳnh Văn Nghệ sinh ra và lớn lên tại vùng quê giàu truyền thống cách mạng, làng Tân Định, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Cha là thầy dạy võ, nghĩa khí can trường, cậu của ông tham gia phong trào Thiên Địa Hội, chống thực dân Pháp. Từ nhỏ Huỳnh Văn Nghệ đã chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột bất công của bọn thực dân, quan lại nên đã hun đúc trong tâm hồn của nhà yêu nước ý chí, nghị lực đấu tranh và sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng.

Từ trái qua: Các ông Huỳnh Văn Nghệ, Lê Duẩn, Nguyễn Bình,
Dương Quốc Chính ở Chiến khu Đ (ảnh tư liệu)

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Huỳnh Văn Nghệ đã trải qua nhiều trọng trách trong Đảng, Nhà nước, quân đội với những thành tích đặc biệt xuất sắc. Kinh qua nhiều chức vụ khác nhau, từ Chi đội trưởng, Trung đoàn trưởng, Tư lệnh Khu 7, Phó Tư lệnh khu Sài Gòn - Chợ Lớn, ở cương vị nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tập hợp được lực lượng tạo thành sức mạnh cho phong trào cách mạng dân tộc.

Thông minh, học giỏi nên năm 1932 Huỳnh Văn Nghệ được nhận học bổng tại trường Trung học Pétrus Ký Sài Gòn (nay là trường THPT Lê Hồng Phong, TP.HCM). Những năm 1936-1939, ông tham gia phong trào Đông Dương đại hội ở Sở Xe lửa Sài Gòn. Năm 1940, tham gia khởi nghĩa Nam kỳ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, giặc Pháp điên cuồng đàn áp những người cộng sản, một số phải rút về rừng Tân Uyên hoạt động, ông lo tiếp tế đạn dược, thuốc men cho đồng đội. Năm 1942, ông bị lộ, phải trốn sang Thái Lan, hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước và tổ chức xuất bản tờ báo Hồn cố hương, kêu gọi kiều bào hướng về Tổ quốc, ủng hộ cách mạng, phát huy sức mạnh đoàn kết giải phóng dân tộc. Năm 1944, Huỳnh Văn Nghệ về nước, bắt liên lạc với cách mạng và được đồng chí Trần Văn Giàu, Bí thư Xứ ủy Nam kỳ phân công lập căn cứ Đất Cuốc, Tân Uyên và Biên Hòa. Ngày 9-3-1945, lợi dụng thời cơ, Phát xít Nhật đảo chính, quân Pháp bỏ tàu chạy, Huỳnh Văn Nghệ đã chỉ huy lực lượng chiếm số vũ khí trên tàu chiến của Pháp bị mắc cạn trên sông Đồng Nai, trang bị cho lực lượng kháng chiến của ta tại Tân Uyên. Tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, ông trực tiếp chỉ huy cướp chính quyền ở Biên Hòa, cùng đồng chí Nguyễn Văn Giỏi bắt sống Dương Văn Giáo, tên Việt gian thân Nhật tự xưng là Thủ tướng Chính phủ lâm thời Cộng hòa Việt Nam. Cũng thời gian này, Huỳnh Văn Nghệ được bổ nhiệm làm cố vấn cho Ủy ban kháng chiến miền Đông. Tháng 10-1945, ông đưa lực lượng về Tân Uyên, xây dựng lực lượng bộ đội đầu tiên của tỉnh lấy tên Vệ quốc đoàn Biên Hòa, từng bước xây dựng vùng Tân Uyên trở thành cứ địa kháng chiến vững chắc nhất Nam bộ. Liên tục trong tháng 3 và 4-1946, ông đã chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hòa phối hợp Vệ quốc đoàn Châu Thành đánh bại 2 cuộc càn quét lớn của quân Pháp vào Tân Uyên, góp phần hình thành Chiến khu Đ với 5 xã đầu tiên gồm Tân Hòa, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Thường Long và Lạc An (Tân Uyên). Tháng 5-1946, trên cương vị Ủy viên Ban phụ trách quân sự tỉnh Biên Hòa, ông chủ trì Hội nghị quân sự tỉnh ở Đất Đèn (Tân Hòa) quyết định thống nhất các đơn vị Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Vệ quốc đoàn Long Thành, Vệ quốc đoàn Châu Thành thành lực lượng vũ trang tỉnh lấy tên là Vệ quốc đoàn Biên Hòa. Tháng 6-1946, Khu bộ Khu 7 ra quyết định thành lập Chi đội 10 giao cho ông làm Chi đội trưởng. Với tài điều binh sáng tạo, tầm nhìn xa, ông đã thành lập các ban quân sự địa phương, sau đó chuyển thành các ban công tác liên thôn, tạo ra chân rết ở cơ sở, hỗ trợ cho Chi đội 10 và bước đầu hình thành 3 loại hình lực lượng vũ trang trên địa bàn. Lúc này toàn tỉnh có 14 ban công tác liên thôn, là tiền thân của các huyện đội, xã đội sau này. Thực hiện chỉ đạo của Xứ ủy phối hợp chiến trường chung, Huỳnh Văn Nghệ trực tiếp chỉ huy một loạt trận đánh giao thông đường sắt tuyến Biên Hòa - Sài Gòn (14-7-1947), tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Pháp, thu nhiều vũ khí, lương thực. Trận đánh tạo nên truyền thống đánh giao thông của lực lượng vũ trang Biên Hòa, cổ vũ phong trào du kích chiến tranh địa phương.

Sau các trận đánh đường sắt, ông chỉ huy trận đánh giao thông đường bộ ở Đồng Xoài (quốc lộ 14), trận đánh có ý nghĩa thử nghiệm một loại mìn chống xe tăng và rút ra kinh nghiệm cho các trận đánh giao thông sau này. Với tài năng, sáng tạo của ông trong chỉ đạo chiến thuật và tác chiến, cuối tháng 1-1948, ông đã vạch kế hoạch mở trận đánh giao thông lớn, đoạn đường La Ngà, quốc lộ 20. Phương thức tác chiến “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” và làm tốt chính sách tù hàng binh và dân vận, ông đã chỉ đạo triển khai đồng bộ kế hoạch tác chiến từ xa cùng với lực lượng du kích liên tục quấy phá, làm vật cản trên đường, đưa địch vào trận địa phục kích. Chỉ đạo binh công xưởng sản xuất đánh xe tăng, xe quân sự, ngụy trang địch không phát hiện, tiến công giành chính quyền. Ngày 1-3-1948 trận địa phục kích dài 9km diễn ra theo đúng kế hoạch, ta đã diệt 150 lính; trong đó có 25 sĩ quan, 2 tên đại tá, phá hủy 59 xe quân sự. Trận đánh gây tiếng vang lớn về chính trị, cổ vũ tinh thần giải phóng dân tộc.

Bước sang năm 1948, ở miền Đông địch thực hiện chiến lược “Điểm và đường”, xây dựng hàng loạt tháp canh dọc đường giao thông và xung quanh căn cứ kháng chiến. Huỳnh Văn Nghệ đã chỉ huy du kích Tân Uyên nghiên cứu dùng lựu đạn và thang cây để leo tường tháp canh, bí mật đánh tháp canh cầu Bà Kiên (19-3-1948). Ngày 27-3-1948, Quân khu quyết định Chi đội 10 trở thành Trung đoàn 310 do Huỳnh Văn Nghệ là Trung đoàn trưởng kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Biên Hòa. Tháng 6-1948, ông về Khu 7 làm Khu phó rồi Khu trưởng. Tháng 11-1949, ông chủ trì cuộc họp quân sự Quân khu bàn cách đánh bại tháp canh của địch. Chiến thuật “Bí mật cộng vũ khí phù hợp”, ông chỉ đạo binh công xưởng nghiên cứu sản xuất mìn có sức công phá lớn gọi là FT (phá tường). Từ chiến thuật, ông đã chỉ đạo Tỉnh đội Biên Hòa tập hợp 300 cán bộ, chiến sĩ, du kích xuất sắc về tổ chức tập huấn kỹ thuật đánh tháp canh ở Chiến khu Đ.

Ngày 22-3-1950, ta đồng loạt đánh 50 tháp canh. Sau khi nghiên cứu, binh công xưởng chế tạo một loại mìn mới lấy tên Bê-ta đã đánh sập tháp canh Thủy Nhung. Đêm 19-4-1950, du kích Tân Uyên do đồng chí Trần Công An chỉ huy dùng mìn FT và Bê-ta đánh sập hoàn toàn tháp canh cầu Bà Kiên lần 2. Ngày 5-5-1950, ta lại đánh sập tháp canh Vàm Giá (quốc lộ 14). Trong hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong (11-1950), cách đánh tháp canh được gọi là cách đánh “đặc công”. Sau đó, Huỳnh Văn Nghệ đã chỉ đạo triển khai, phổ biến kinh nghiệm đánh tháp canh ra toàn miền Đông Nam bộ, Cực Nam Trung bộ, Khu 9. Tháng 5-1951, Phân liên khu miền Đông được thành lập, Huỳnh Văn Nghệ là Phó Tư lệnh Phân liên khu. Thực hiện chủ trương tăng cường cho cơ sở, ông được cử vào Thường vụ Tỉnh ủy làm Tỉnh đội trưởng tỉnh Thủ Biên (Biên Hòa - Thủ Dầu Một). Trong thời gian làm Tỉnh đội trưởng, ông cùng Tỉnh ủy chỉ đạo những vấn đề lớn: Xây dựng và phát triển phong trào du kích chiến tranh, tăng cường công tác chính trị, công tác Đảng trong quân đội, đẩy mạnh công tác địch vận. Tiêu biểu ngày 20-7-1950, ông chỉ huy trực tiếp trận đánh diệt địch khu quân sự Trảng Bom bằng phương thức kết hợp đặc công với bộ binh, diệt 100 lính Lê Dương, bắt sống 50 tên, thu nhiều vũ khí, lương thực, phá tan bàn đạp đánh phá của địch vào Chiến khu Đ. Tháng 6-1951, đồng chí chỉ đạo cho Đại đội Lam Sơn và biệt động đánh diệt đồn Long Điền (Biên Hòa), đánh bại âm mưu lợi dụng tôn giáo đánh phá cách mạng của địch. Tháng 10-1952, miền Đông gặp bão lũ, ông cùng Tỉnh ủy, các ban, ngành chỉ huy bộ đội cứu giúp đồng bào vùng lũ lụt. Đặc biệt tháng 1-1953, ông trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 303 Thủ Biên cùng tự vệ các cơ quan đánh bại trận càn quy mô lớn của Pháp vào Chiến khu Đ trong khi quân ta vừa đói vừa khát. Tháng 5-1953, Huỳnh Văn Nghệ làm Trưởng đoàn cán bộ cao cấp của miền Nam ra Trung ương học. Sau đó ông ở lại miền Bắc công tác gần 12 năm, trải qua các trọng trách là Trưởng phòng Thể dục thể thao, Cục phó Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu rồi chuyển ngành làm Tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệp. Năm 1965, ông lại được điều động trở về miền Nam, lần lượt giữ các chức vụ Trưởng ban, Phó Bí thư Đảng ủy căn cứ Trung ương cục miền Nam; Phó ban Kinh tài Trung ương cục miền Nam; Trưởng ban Lâm nghiệp Trung ương cục miền Nam. Trên cương vị nào ông cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước ông được cử giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam; Thứ trưởng, Ủy viên Đảng - Đoàn Bộ Lâm nghiệp cho đến ngày nghỉ hưu. Sau thời gian lâm bệnh nặng, ngày 5-3-1977, ông mất tại Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM, thọ 63 tuổi.

Huỳnh Văn Nghệ không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự tài năng, kiên cường, oanh liệt mà còn là một cây bút tràn đầy nhiệt huyết trong lĩnh vực thơ ca. Qua các tác phẩm của ông, người đọc có thể hiểu thêm về quê hương, gia đình, cuộc đời binh nghiệp, văn nghiệp của ông, của cuộc kháng chiến gian khổ, trường kỳ, oanh liệt của dân tộc và nhân dân miền Đông Nam bộ. Đặc biệt bài thơ “Nhớ Bắc” đã trở thành thi phẩm kinh điển trong đời sống tinh thần của hàng triệu người dân Việt Nam.

“Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn