ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÊ HỮU TRẠC – NGỌN LỬA NGHỊ LỰC KHÔNG BAO GIỜ TẮT
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÊ HỮU TRẠC – NGỌN LỬA NGHỊ LỰC KHÔNG BAO GIỜ TẮT

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÊ HỮU TRẠC – NGỌN LỬA NGHỊ LỰC KHÔNG BAO GIỜ TẮT
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, nhiều người lính đã hiến dâng tuổi xuân, sức khỏe và cả một phần cơ thể để đổi lấy hòa bình cho đất nước. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc là một trong những tấm gương tiêu biểu ấy. Dù vĩnh viễn mất đi ánh sáng của đôi mắt sau chiến tranh, ông vẫn không ngừng cống hiến, trở thành biểu tượng của ý chí, nghị lực và tinh thần sống vì cộng đồng.
Sinh năm 1941 tại thôn Xuân Dục, xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (nay thuộc xã Trường Ninh, tỉnh Quảng Trị), Lê Hữu Trạc lớn lên trên vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Tuổi thơ gắn liền với cuộc sống lao động bình dị cùng những câu chuyện về tinh thần yêu nước đã hun đúc trong ông ý chí bảo vệ quê hương ngay từ khi còn rất trẻ.
Tháng 4 năm 1962, ông tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341, làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến Vĩnh Linh. Trong quá trình huấn luyện và chiến đấu, ông luôn được đồng đội đánh giá là người bình tĩnh, dũng cảm, có tinh thần kỷ luật và trách nhiệm cao.
Đến năm 1965, khi tình hình chiến sự tại đảo Cồn Cỏ ngày càng ác liệt, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ tăng cường lực lượng ra bảo vệ đảo. Nhận thức rõ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của hòn đảo tiền tiêu, Lê Hữu Trạc là một trong những cán bộ đầu tiên tình nguyện nhận nhiệm vụ. Trên cương vị Trung đội phó kiêm Bí thư Chi bộ, ông cùng đồng đội tìm nhiều cách khắc phục khó khăn, tiết kiệm nguồn nước ngọt và nâng cao khả năng chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Trong gần 1.000 ngày đêm bám trụ trên đảo Cồn Cỏ, ông cùng đồng đội liên tục đối mặt với những trận oanh tạc dữ dội của không quân và hải quân Mỹ. Bom đạn tàn phá trận địa, điều kiện sinh hoạt vô cùng khắc nghiệt, lương thực, nước uống và thuốc men luôn trong tình trạng thiếu thốn. Mặc dù vậy, các cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường giữ vững trận địa, bảo vệ đảo và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Đối với ông, những năm tháng trên Cồn Cỏ không chỉ là cuộc chiến với bom đạn mà còn là khoảng thời gian gắn bó sâu nặng với tình đồng chí, đồng đội. Họ cùng chia sẻ từng ngụm nước, từng nắm gạo, động viên nhau vượt qua khó khăn và sát cánh trong mỗi trận chiến. Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, Lê Hữu Trạc đã ba lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Tuy nhiên, ông luôn khiêm nhường cho rằng mọi chiến công đều là kết quả của sự đoàn kết và hy sinh của cả tập thể.
Đầu năm 1968, ông trở về đất liền nhận nhiệm vụ mới và tiếp tục chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị. Với năng lực chỉ huy và tinh thần trách nhiệm, ông được bổ nhiệm giữ chức Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 270, Quân khu 4. Tháng 8 năm 1968, trong một chuyến trinh sát chuẩn bị phương án chống địch đổ bộ đường không tại khu vực phía Tây Vĩnh Linh, đơn vị của ông không may vướng phải bom nổ chậm. Người chiến sĩ đi cùng đã anh dũng hy sinh, còn Lê Hữu Trạc bị thương rất nặng và vĩnh viễn mất đi ánh sáng của cả hai mắt.
Rời quân ngũ với thương tật nặng, ông không để nghịch cảnh làm mình gục ngã. Tại trại an dưỡng Ba Vì, ông gặp bà Kim Thị Mão, người đã cảm phục nghị lực của người thương binh và quyết định đồng hành cùng ông suốt cuộc đời. Trở về quê hương, ông tích cực tham gia công tác xã hội và được tín nhiệm giữ cương vị Chủ tịch Hội Người mù đầu tiên của tỉnh Quảng Bình. Trên cương vị này, ông cùng tập thể hội xây dựng tổ chức, mở các lớp dạy nghề, tạo việc làm và giúp nhiều người khiếm thị có cơ hội tự lập, hòa nhập với cộng đồng.
Không chỉ hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn, ông còn thường xuyên chia sẻ câu chuyện cuộc đời mình để truyền cảm hứng về nghị lực sống. Đối với ông, mất đi ánh sáng của đôi mắt không đồng nghĩa với mất đi niềm tin và khát vọng cống hiến. Chính tinh thần ấy đã giúp ông tiếp tục sống có ích, lan tỏa niềm tin và động lực đến nhiều người.
Trong quá trình chiến đấu và công tác, ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Đến tháng 4 năm 2018, sau hơn nửa thế kỷ kể từ những ngày chiến đấu trên đảo Cồn Cỏ, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đối với ông, đây không chỉ là niềm vinh dự của bản thân mà còn là sự tri ân dành cho những đồng đội đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.
Cuộc đời của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Hữu Trạc là minh chứng sinh động cho bản lĩnh của người lính Cụ Hồ: dũng cảm trong chiến đấu, kiên cường trước nghịch cảnh và không ngừng cống hiến trong thời bình. Tấm gương của ông nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình, nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí vượt khó và tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng. Đó chính là "ánh sáng" của niềm tin, của nghị lực và của khát vọng cống hiến – ngọn lửa sẽ mãi được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.



