Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Lê Văn Dũng
Lê Văn Dũng (tên khai sinh: Nguyễn Văn Nới; 25/12/1945 – 09/01/2026). Quê quán: xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ( nay là xã Giồng Trôm, tỉnh Vĩnh Long). Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VIII, IX, X, nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (từ 2001 đến 2011) và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (từ 1998 đến 2001).
Lê Văn Dũng (tên khai sinh: Nguyễn Văn Nới; 25/12/1945 – 09/01/2026). Quê quán: xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ( nay là xã Giồng Trôm, tỉnh Vĩnh Long). Ông nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VIII, IX, X, nguyên Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (từ 2001 đến 2011) và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (từ 1998 đến 2001). |
• Ngày 14 tháng 5 năm 1963, ông nhập ngũ vào bộ đội chủ lực của Quân Giải phóng Miền Nam, trở thành chiến sĩ trinh sát của Đại đội 12 Tiểu đoàn 3, Đoàn Q761 (tức Đoàn Bình Giã).
• Từ khi Công trường 9 (sư đoàn 9) được thành lập, ông lần lượt giữ các chức vụ Tiểu đội trưởng trinh sát, Trung đội phó bộ binh, Trung đội trưởng, Đại đội phó Đại đội 12 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 Sư đoàn 9.
• Ông được kết nạp Đảng Lao động Việt Nam ngày 23 tháng 9 năm 1965, trở thành đảng viên chính thức ngày 23 tháng 9 năm 1966.
• Tháng 6 năm 1968, ông chuyển sang công tác chính trị quân đội, được cử làm Chính trị viên Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 Sư đoàn 9.
• Tháng 3 năm 1969, ông là Chính trị viên phó, tháng 9 cùng năm trở thành Chính trị viên Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
• Tháng 12 năm 1970, ông được cử đi học tại H14 (Trường trung cấp Quân chính thuộc Bộ chỉ huy Miền, lớp cán bộ trung đoàn). Tháng 6 năm 1971, ông trở về đơn vị, được cử làm Phó chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 1 Sư đoàn 9, cấp bậc Đại úy.
• Tháng 3 năm 1973, ông được thăng làm Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 (từ 20 tháng 7 năm 1974 thuộc Quân đoàn 4), cấp bậc Thiếu tá. Tháng 10 năm 1974, ông giữ vị trí Chính ủy Trung đoàn 1 Sư đoàn 9, cấp bậc Trung tá. Ông tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, thuộc cánh quân Tây Nam của đoàn 232 - Binh đoàn Cửu Long.[1]
• Tháng 8 năm 1978, ông theo học tại Học viện Quân sự cấp cao. Ông tham gia Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam.
• Tháng 8 năm 1980, ông trở lại đơn vị, giữ chức Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long), cấp bậc Thượng tá.
• Tháng 6 năm 1986, ông giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 Quân đoàn 4, cấp bậc Đại tá.
• Tháng 2 năm 1988, đơn vị ông hoàn thành nhiệm vụ quốc tế và rút về nước, ông được cử đi học bổ túc tại Học viện Frunde Liên Xô. Tháng 4 năm 1989, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng.
• Tháng 8 năm 1989 trở về nước, ông được bổ nhiệm Phó tư lệnh thứ nhất Quân đoàn 4.
• Tháng 8 năm 1989, ông được cử đi học bổ túc lý luận cao cấp tại Học viện Chính trị Quân sự. Tháng 9 năm 1990, ông được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 7.
• Tháng 10 năm 1991, ông được chuyển sang làm Tư lệnh Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long).
• Tháng 10 năm 1995, ông được chuyển trở lại Quân khu 7 giữ chức Tư lệnh.
•Tháng 1 năm 1998, ông được điều về Bộ Quốc phòng, giữ chức Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. (Kế nhiệm ông tại Quân khu 7 là Phan Trung Kiên, sau trở thành Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Tháng 4 năm đó, ông được thăng quân hàm Trung tướng.
• Tháng 9 năm 1998, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (thay Trung tướng Đào Trọng Lịch tử nạn máy bay).
• Ngày 7 tháng 11 năm 2000, sau vụ cựu phi công Việt Nam Cộng hòa Lý Tống đã cướp một chiếc máy bay nhỏ tại Thái Lan bay sang Thành phố Hồ Chí Minh, thả hơn 50.000 tờ truyền đơn. Vì vụ kiểm điểm này ông bị kỷ luật hình thức k]hiển trách do liên quan tới trách nhiệm trên cương vị Tổng tham mưu trưởng.
• Tháng 5 năm 2001, ông chuyển công tác trở lại Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ chức Chủ nhiệm. (Kế nhiệm chức vụ Tổng tham mưu trưởng là Trung tướng Phùng Quang Thanh, sau trở thành Bộ trưởng Quốc phòng).
• Ông được Chủ tịch nước thăng quân hàm từ Trung tướng lên Thượng tướng tháng 6 năm 2003, lên Đại tướng vào tháng 7 năm 2007 (cùng được thăng Đại tướng vào đợt này có Bộ trưởng Phùng Quang Thanh).
• Ông trúng cử Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương các khóa VIII, IX, X, được bầu vào Ban Bí thư các khoá IX, X.
• Năm 2011, Ông được Đảng, Nhà nước quyết định nghỉ hưu theo chế độ.
• Ông được Nhà nước trao tặng nhiều Huân chương, huy trương cao quý.
• Ngày 26/12/2025, Ông được Chủ tịch nước Lương Cường ký quyết định trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
• Sau thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội, tập thể các giáo sư, bác sĩ và gia đình tận tình chăm sóc, cứu chữa, do tuổi cao, sức yếu, Ông đã từ trần lúc15 giờ 40 phút, ngày 09/01/2026 (tức ngày 21 tháng 11 năm Ất Tỵ) tại nhà riêng, hưởng thọ 81 tuổi.



