ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÝ HỮU TRÍ
Ở nơi tận cùng cực Nam Tổ quốc, nơi rừng đước xanh ngút ngàn soi bóng xuống những con kênh rạch chằng chịt, có một con người đã sống và chiến đấu như một ngọn lửa không bao giờ tắt. Ông là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lý Hữu Trí, tên thường gọi Năm Nhanh người đã góp phần làm nên những chiến công vang dội trong những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ mà hào hùng của đất nước.
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÝ HỮU TRÍ
Ở nơi tận cùng cực Nam Tổ quốc, nơi rừng đước xanh ngút ngàn soi bóng xuống những con kênh rạch chằng chịt, có một con người đã sống và chiến đấu như một ngọn lửa không bao giờ tắt. Ông là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lý Hữu Trí, tên thường gọi Năm Nhanh người đã góp phần làm nên những chiến công vang dội trong những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ mà hào hùng của đất nước.
Hôm nay, khi đã 94 tuổi, ông Trí sống bình dị cùng người con trai út trong căn nhà cấp 4 ở khóm 5, phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau. Dáng người ông đã gầy đi theo năm tháng, mái tóc bạc trắng như sương, nhưng ánh mắt vẫn ánh lên sự rắn rỏi của một người từng đi qua bom đạn. Nhắc đến ông, người dân quê nhà không chỉ nhắc đến một anh hùng mà còn nhắc đến một cái tên thân thương: Năm Nhanh. Cái tên ấy như minh chứng cho phong cách chiến đấu nhanh trí, nhanh nhẹn, quyết đoán, luôn sẵn sàng đối mặt mọi hiểm nguy vì nhiệm vụ.
Năm 13 tuổi theo cách mạng tuổi thơ gửi lại chiến trường. Năm 1945, khi đất nước còn chìm trong đói nghèo và áp bức, gia đình ông Trí bị địa chủ bắt giam chỉ vì ba ông đi theo Việt Minh. Nỗi đau ấy không chỉ là nỗi đau của riêng một gia đình, mà là nỗi đau chung của biết bao người dân nghèo lúc bấy giờ. Ông kể lại bằng giọng trầm nhưng đầy kiên quyết: “Năm 1945, biết ba tôi theo Việt Minh, địa chủ dựng cớ gia đình tôi không chịu đóng tô nên bắt 5 người trong gia đình giam cầm. Hận địa chủ, tôi bỏ làng quê theo cách mạng khi mới 13 tuổi.” Mới 13 tuổi cái tuổi đáng lẽ phải được cắp sách đến trường, sống trong vòng tay cha mẹ, thì ông đã chọn con đường đầy gian nan: làm cách mạng. Quyết định ấy không phải bồng bột, mà là sự trưởng thành sớm từ nỗi đau và lòng yêu nước. Thấy ông còn nhỏ nhưng có ý chí mạnh mẽ, các chú, các anh trong đơn vị đã hết lòng giúp đỡ, giao cho ông những nhiệm vụ phù hợp: làm giao liên, đội trưởng thiếu nhi. Sau đó ông được đi học văn hóa rồi phân công dạy lớp bình dân ở ấp Cỏ Xước, xã Phong Lạc. Từ những công việc tưởng chừng nhỏ bé ấy, ông dần trưởng thành và trở thành người cán bộ cách mạng vững vàng. Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: trưởng trạm giao thông liên lạc xã Phong Lạc, trưởng trạm xuất nhập khẩu mặt trận III khu Tây Nam Bộ, trưởng đoàn kế toán thanh toán tài chính huyện Trần Văn Thời… Dù ở nhiệm vụ nào, ông cũng hoàn thành xuất sắc. Và ngày 21-12-1961, ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng một dấu mốc thiêng liêng trong cuộc đời người chiến sĩ.
Kiên trung giữa đòn roi, giữ trọn khí tiết người cộng sản. Sau Hiệp định Geneva, ông có tên trong danh sách tập kết ra Bắc. Thế nhưng ông được giữ lại để xây dựng cơ sở, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài ở miền Nam. Ông được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng: quân báo liên tỉnh khu 9, phân đoàn trưởng ấp Cỏ Xước vận động quần chúng đấu tranh chính trị…Nhưng con đường cách mạng không bao giờ bằng phẳng. Ngày 2-7-1959, ông bị đối phương nghi ngờ là cán bộ nằm vùng và bắt giữ. Ông bị tra tấn, bị đánh đập dã man, nhưng vẫn giữ trọn lòng trung thành với Đảng, không hé lộ bất cứ điều gì. Không khai thác được thông tin, đến ngày 3-10-1959, đối phương buộc phải thả ông. Trở về địa phương, ông tiếp tục liên lạc với cách mạng, được phân công làm chính trị viên ấp đội Cỏ Xước. Đến giữa năm 1960, ông về lực lượng an ninh vũ trang Cà Mau, kiêm Chính trị viên Đại đội phòng thủ bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy Cà Mau. Từ đây, ông cùng đồng đội bước vào những năm tháng chiến đấu khốc liệt nhất.
Những trận đánh lưu danh bản hùng ca giữa rừng đuốt. Trong chiến đấu, ông Trí nổi bật bởi sự dũng cảm, mưu trí, kiên cường và sáng tạo. Một trong những chiến công tiêu biểu là trận chống càn ngày 29-6-1968 tại ấp Rạch Cui, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời. Khi đó, ông cùng đơn vị phải bảo vệ Trạm giao bưu tỉnh Cà Mau và hơn 300 cán bộ cấp tỉnh, huyện. Đối phương huy động lực lượng mạnh gồm không quân, pháo binh và hàng ngàn bộ binh, bất ngờ bao vây. Trong khi đó, lực lượng phòng thủ do ông chỉ huy chỉ còn một trung đội, nhiều người bị thương. Nhưng bằng bản lĩnh của người chỉ huy và tinh thần quyết tử, ông đã giữ vững trận địa, bẻ gãy hàng chục đợt tấn công, buộc đối phương phải rút lui. Không chỉ một lần, ông tiếp tục chỉ huy trận đánh ngày 17-9-1972 tại vùng rừng Năm Căn. Địch hơn 100 tên biệt kích kết hợp chủ lực đi càn, trong khi lực lượng của ông chỉ có 9 người. Thế nhưng với ý chí kiên cường, ông đã chỉ huy đánh bật quân địch, giữ vững vùng căn cứ. Đặc biệt nhất là trận đánh chiếm đồn Thị Kẹo và yếu khu Sông Đốc vào đêm 19-12-1974. Trận đánh ấy như một cơn bão lửa, làm rung chuyển cả vùng. Ông chỉ huy phối hợp cùng đơn vị bạn tiêu diệt hàng trăm lính đối phương, bắt sống 250 tên, giành quyền kiểm soát vùng rộng lớn, khiến địch hoang mang lo sợ. Chiến thắng ấy góp phần tạo khí thế mạnh mẽ cho quân và dân Cà Mau trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến.
Hai lần truy điệu sự sống trở về từ lằn ranh cái chết. Chiến tranh tàn khốc đến mức ông đã hai lần bị đồng đội làm lễ truy điệu vì tưởng đã hy sinh. Năm 1968, ông chỉ huy trung đội tấn công vào thị xã Cà Mau, xung phong đánh chiếm kho đạn địch. Khi tiến gần khoảng 20m thì bị phản công dữ dội. Ông bị thương nặng, máu chảy ướt áo. Ông tự dùng khăn dù thắt ngang bụng để cầm máu rồi ngất đi. Đến sáng, ông tỉnh lại, cố gắng bò gần 3km mới gặp đồng đội. Trong lúc đó, vì không thấy ông trở về, đồng đội đã làm lễ truy điệu cho ông. Đến năm 1974, trong trận đánh đồn Thị Kẹo, ông lại bị thương nặng. Đồng đội tưởng ông đã hy sinh nên đặt ông lên bụi ráng rồi tiếp tục chiến đấu. Ông tỉnh lại, gắng sức bò đi tìm đồng đội, nhưng sau trận đánh không ai tìm thấy, mọi người nghĩ địch đã mang xác ông đi và tiếp tục làm lễ truy điệu lần thứ hai. Hai lần bước ra từ cái chết, ông như một chứng nhân sống của thời hoa lửa nơi ranh giới giữa sống và chết chỉ cách nhau một hơi thở.
Trong 600 trận đánh một đời sống vì Tổ quốc. Trong suốt cuộc kháng chiến, ông Lý Hữu Trí đã tham gia và chỉ huy hơn 600 trận đánh lớn nhỏ, tiêu diệt hơn 4.000 lính đối phương, làm bị thương hơn 10.000 tên, bắt sống 600 tên, bắn rơi 2 máy bay, làm thiệt hại 5 chiếc khác, bắn chìm và cháy 37 tàu, phá hủy 30 đồn, 1 yếu khu, thu hàng chục tấn vũ khí. Không chỉ chiến đấu bằng súng đạn, ông còn cùng đồng đội vận động hơn 10.000 lượt quần chúng tham gia đấu tranh chính trị và binh vận; vận động hơn 2.000 binh lính trở về với cách mạng; phá một tổ chức gián điệp và bắt 30 tên. Ông đã góp phần bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não quan trọng của tỉnh Cà Mau trong suốt những năm kháng chiến ác liệt.
Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc, ngày 14-6-1976, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngoài ra, ông còn nhận được nhiều huân chương, huy hiệu cao quý. Và mới đây, ngày 3-2-026, ông vinh dự nhận Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng minh chứng cho cả một đời trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng. Giữa thời bình hôm nay, khi chúng ta được sống trong hòa bình, học tập trong mái trường, vui chơi trong những ngày yên ổn, câu chuyện về ông Năm Nhanh như một lời nhắc nhở sâu sắc: độc lập tự do không tự nhiên mà có. Đó là thành quả của biết bao máu xương, của những con người đã sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ và cả mạng sống cho Tổ quốc.
Ông Lý Hữu Trí không chỉ là một anh hùng trong lịch sử, mà còn là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của con người miền Tây Nam Bộ kiên cường như rừng đước, bền bỉ như dòng kênh, mạnh mẽ như sóng biển cực Nam. Và dù thời hoa lửa đã lùi xa, ngọn lửa ấy vẫn cháy mãi trong lòng dân tộc, trong từng trang sử, trong từng câu chuyện được truyền lại cho thế hệ hôm nay và mai sau. Thời hoa lửa một thời để nhớ, một thời để biết ơn, và một thời để sống xứng đáng.



