Anh hùng trong chiến đấu…
Anh hùng Ngô Thị Huệ, bí danh Minh Hiệp, sinh ngày 20/12/1942 tại làng Hương Phát, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) trong gia đình giàu truyền thống cách mạng. Từ những năm 1950, gia đình chị đã là cơ sở nuôi giấu cán bộ cốt cán của phong trào. Sinh ra và lớn lên trong môi trường ấy, chị đã sớm hun đúc tinh thần đấu tranh cách mạng, ý chí căm thù giặc cao độ. Ngày ấy, dù mới hơn 10 tuổi nhưng chị đã rất hăng hái trong những nhiệm vụ được giao như rải truyền đơn, canh gác để báo tin hoạt động của địch cho cơ sở.
Trong suốt quá trình tham gia cách mạng, chị đã tham gia vào 4 trận đánh lớn, tiêu diệt được 8 tên ác ôn có nhiều nợ máu với Nhân dân và phong trào cách mạng. Chị đã xây dựng được 27 cơ sở, trong đó có 4 cơ sở làm việc trong hàng ngũ địch, 2 cơ sở là đồng bào Công giáo và 13 cơ sở hoạt động ở nội thành. Với những đóng góp đó, chị đã được tặng thưởng rất nhiều huân, huy chương và danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Đặc biệt, ngày 29/8/1985, chị vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nữ Anh hùng Ngô Thị Huệ hiện đã bước qua tuổi 80 và đang sống cùng người chồng, người đồng đội trong căn nhà nhỏ ở phường Thạch Thang, quận Hải Châu (TP Đà Nẵng). Cả một thời tuổi trẻ, chị đã tận hiến đời mình cho Tổ quốc, cho Nhân dân. Đối mặt với kẻ thù, chị là một nữ anh hùng, không ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thế nhưng đời thường của chị lại đầy sóng gió và xen lẫn nhiều kỷ niệm buồn vui… Những ngày bị bắt giam và tra tấn tại nhà lao Hiếu Đức, chị quen biết với một nữ tù, cũng là nữ cách mạng kiên trung. Cảm mến tấm lòng của nhau, hai người đã trở nên thân thiết như chị em ruột thịt. Một thời gian sau, chị được chuyển đến nhà lao Hội An nên hai chị em bặt tin, cho đến khi ra Hà Nội điều trị vết thương do mảnh bom để lại, như sự sắp đặt sẵn của số phận, hai chị em gặp lại nhau khi cùng điều trị trên giường bệnh. Thời gian này, nữ bạn tù của chị đã có người yêu, là anh Trần Viết Trí (SN 1936). Anh Trí lúc bấy giờ cũng tham gia hoạt động cách mạng từ nhỏ, đến thời điểm này, anh được điều chuyển về Ban thống nhất ở Hà Nội, sau làm Giám đốc Bệnh viện E22, nên thường xuyên đến chăm sóc người yêu. Biết hoàn cảnh của chị Huệ, anh Trí cảm thông nên thường xuyên động viên, chăm sóc.
Ngày anh Trí tổ chức đám cưới với người yêu, chị đã đến dự và chúc phúc. Sau này, khi vợ chồng bạn có hai cậu con trai, mỗi lần có dịp, chị cũng ghé qua, thăm hỏi đỡ đần. Sau giải phóng, anh Trần Viết Trí vào Đà Nẵng làm việc tại Ban tổ chức Thành ủy, cũng thời điểm này, anh phải đón nhận nỗi đau đớn tột cùng khi vợ anh đột ngột qua đời. Thời gian cũng nguôi ngoai dần, khi 2 con của anh Trí một lên 9 tuổi, một lên 10 tuổi nhưng không bàn tay người mẹ chăm sóc, chị thương vô cùng nên đã tự nguyện đỡ đần hai đứa. Vượt qua những rào cản gia đình và xã hội lúc bấy giờ, anh chị chính thức nên nghĩa vợ chồng.
Lấy chồng rồi, chị mới đau đớn biết một sự thật: Do những lần bị tra tấn dã man của kẻ thù, chị đã mất đi khả năng sinh nở. Không còn thiên chức của một người mẹ, chị dồn tất cả tình yêu cho hai đứa con riêng của chồng, cũng bởi vậy mà khoảng cách giữa “mẹ ghẻ con chồng” vốn tồn tại cố hữu trong xã hội lâu nay, đã bị xóa bỏ. Chị coi hai đứa như con đẻ, hai con cũng coi chị như mẹ ruột của mình. Đến nay, cả hai người con đã trưởng thành và có công việc ổn định, mỗi người sinh cho ông bà hai cháu nội xinh xắn, để rồi mỗi dịp cuối tuần, căn nhà nhỏ của hai vợ chồng lại ngập tràn tiếng cười trẻ thơ… Từ nhiều năm nay, mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe cũng yếu dần, cả hai vợ chồng đều là thương binh nặng, nhưng mỗi lần có cơ hội, chị đều tham gia các hoạt động giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ, nhất là trong lực lượng Công an. Ở khu dân cư, mọi sinh hoạt đều được miễn song hai vợ chồng chị luôn đi đầu trong các phong trào của khu phố. Chính cốt cách và tấm lòng ấy của nữ Anh hùng, đã biến chị trở thành tượng đài cao cả, là bông hoa lấp lánh giữa đời thường.