ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN VĂN BẢY VÀ NHỮNG TRẬN KHÔNG CHIẾN CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN VĂN BẢY VÀ NHỮNG TRẬN KHÔNG CHIẾN CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ
Trong bản hùng ca giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam thế kỷ 20, bầu trời miền Bắc những năm 1965 – 1968 từng là một trong những chiến trường khốc liệt và bi tráng nhất. Ở đó, một cuộc đối đầu không cân sức đã diễn ra giữa những chiếc tiêm kích MiG-17 cận âm, trang bị vũ khí thô sơ của Không quân Nhân dân Việt Nam và một lực lượng không quân hùng hậu, tối tân bậc nhất thế giới của đế quốc Mỹ. Giữa vòng vây của bão lửa, bom đạn và những cỗ máy bay siêu thanh bủa vây, huyền thoại về một người phi công xuất thân từ nông dân chân đất đã ra đời. Ông trở thành niềm kiêu hãnh tuyệt đối của dân tộc, một biểu tượng bất diệt của nghệ thuật chiến tranh nhân dân trên không, và là nỗi ám ảnh thường trực của các phi công sừng sỏ nhất bên kia chiến tuyến. Tên của ông là Nguyễn Văn Bảy – người anh hùng mang đậm cốt cách hào sảng, chất phác của vùng sông nước miền Tây Nam Bộ, nhưng lại sở hữu bản lĩnh chiến đấu của một con đại bàng dũng mãnh trên không trung.
Cậu bé miệt vườn trốn nhà đi bộ đội và chữ duyên kỳ lạ với "con số 7"
Cuộc đời của Đại tá, phi công Nguyễn Văn Bảy là một chuỗi những câu chuyện kỳ lạ, độc đáo gắn liền với cái duyên nợ mang tên "con số 7". Ông sinh ngày 2 tháng 2 năm 1936 tại xã Hòa Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), mang tên khai sinh là Nguyễn Văn Hoa. Là người con thứ bảy trong một gia đình nông dân nghèo đông con, theo thói quen gọi tên thân mật của người miền Nam, mọi người vẫn quen gọi ông bằng cái tên mộc mạc là Bảy.
Tuổi thơ của cậu bé Bảy gắn liền với ruộng đồng, sông nước, với những ngày cởi trần tắm sông, tát mương bắt cá. Năm 17 tuổi, chàng thanh niên vạm vỡ ấy phải đối mặt với một "biến cố" lớn: bị cha mẹ ép lập gia đình sớm theo phong tục thời bấy giờ. Không cam chịu sự sắp đặt định mệnh, cũng không muốn chôn vùi tuổi trẻ quanh quẩn sau lũy tre làng khi đất nước đang chìm trong khói lửa, ông quyết định trốn nhà, lén theo bước chân của những đoàn quân Vệ quốc vào chiến khu đánh Pháp. Đó là quyết định làm thay đổi vĩnh viễn cuộc đời ông. Đến năm 1954, sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra miền Bắc và bước vào ngã rẽ lịch sử khi Không quân Việt Nam bắt đầu tuyển chọn những hạt giống đầu tiên để đào tạo phi công tiêm kích.
Về sau, khi nhìn lại cuộc đời oanh liệt của mình, ông Bảy hay cười sảng khoái và đúc kết về con số 7 định mệnh: “Tao toàn gặp số 7: Tên Bảy, con thứ 7, đi bộ đội năm 17 tuổi, học văn hóa 7 ngày lên 7 lớp, 7 lần xuất kích nổ súng bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng tiêm kích MiG-17, và được phong Anh hùng năm 1967!”
Chinh phục bầu trời với trình độ lớp 3 và tuyệt chiêu chống say sóng
Hành trình từ một anh lính bộ binh bước lên buồng lái máy bay chiến đấu của ông Bảy là cả một bản hùng ca về ý chí và nghị lực vươn lên của con người Việt Nam. Năm 1960, nhờ vóc dáng khỏe mạnh, đôi mắt tinh anh và phản xạ nhạy bén, ông trúng tuyển vào đội ngũ phi công. Thế nhưng, rào cản lớn nhất lúc bấy giờ lại nằm ở con chữ. Chàng thanh niên khi ấy mới chỉ học hết lớp 3 trường làng, trong khi tiêu chuẩn tối thiểu để được đào tạo phi công phản lực đòi hỏi nền tảng văn hóa lớp 10/10 để có thể đọc hiểu các tài liệu kỹ thuật hàng không phức tạp, tính toán khí động học và vật lý ứng dụng.
Với lòng quyết tâm cao độ, ông lao vào học ngày cày đêm, vắt kiệt trí lực để hoàn thành chặng đường từ lớp 4 lên lớp 10 chỉ vỏn vẹn trong vòng đúng một tuần lễ tại trường văn hóa quân đội ở Lạng Sơn, kịp hành trang sang Trường Hàng không Số 3 (Trung Quốc) huấn luyện.
Sang đến nước bạn, thử thách khắc nghiệt về thể chất bắt đầu. Khi ngồi lên máy bay huấn luyện, chứng rối loạn tiền đình đã hành hạ ông tơi bời. Mỗi lần máy bay nhào lộn, khoan kích hay lộn vòng, ông lại nôn thốc nôn tháo vì chóng mặt. Nhiều người đã bỏ cuộc vì không chịu nổi áp lực G-force (lực gia tốc). Không đầu hàng số phận, ông Bảy tự nghĩ ra một cách khắc phục có một không hai: ông lấy ruột một quả bóng da, cắt đi một góc rồi buộc dây đeo tòng teng trước ngực. Hễ bay lên trời mà buồn nôn, ông ói ngay vào đó rồi lại tiếp tục nghiến răng cầm cần lái, kiên quyết bám trụ với bầu trời. Nhờ sự lì lợm ấy, ông đã vượt qua mọi bài kiểm tra khắt khe nhất để trở thành một phi công thực thụ.
Tương quan bất đối xứng và nghệ thuật cận chiến "Tắt máy núp mây"
Khi trở về nước và được biên chế vào Trung đoàn Không quân Tiêm kích 923 thuộc Sư đoàn 371, ông Bảy phải đối mặt với một thực tế tàn khốc trên chiến trường không trên. Lực lượng không quân của Mỹ khi ấy sử dụng những cỗ "máy chém" bay tối tân nhất hành tinh như F-4 Phantom II, F-105 Thunderchief, F-8 Crusader – những chiến đấu cơ siêu thanh mang theo hệ thống radar bám bắt tầm xa và tên lửa tầm nhiệt hiện đại. Trong khi đó, chiếc MiG-17 của ông Bảy và đồng đội chỉ là loại máy bay cận âm thế hệ cũ, buồng lái chật hẹp, hoàn toàn "mù" radar bám bắt và không hề có tên lửa dẫn đường. Vũ khí duy nhất của MiG-17 chỉ là ba khẩu pháo nằm dưới mũi máy bay (1 khẩu 37mm và 2 khẩu 23mm) với cơ số đạn hạn chế.
Để bù đắp lại sự chênh lệch một trời một vực ấy, phi công Nguyễn Văn Bảy đã cùng các đồng đội và sở chỉ huy sáng tạo ra một chiến thuật tác chiến vô tiền khoáng hậu, mà dân gian sau này vẫn truyền tụng bằng cụm từ mộc mạc: "tắt máy, núp mây".
Dưới góc độ kỹ thuật quân sự, đó là sự kết hợp hoàn hảo giữa mưu lược và lòng quả cảm. Dưới sự dẫn đường từ radar mặt đất, ông điều khiển chiếc MiG-17 bay là đà men theo những rìa mây tích dày đặc, lẩn khuất để tránh sóng radar quét xa của địch. Khi thời cơ đến gần, ông thu cần ga về mức không tải – triệt tiêu gần như hoàn toàn luồng nhiệt xả ra từ ống xả phản lực. Hành động "cắt ga" này khiến các loại tên lửa dò nhiệt của phi công Mỹ hoàn toàn bị mất dấu vết và vô hiệu hóa.
Máy bay Mỹ ỷ vào tốc độ lớn nhưng lại có điểm yếu chí mạng là bán kính lượn vòng rất rộng. Ông Bảy lợi dụng điểm yếu này để ép địch vào thế ngoặt gấp, lách mây bay xé tắt qua tâm vòng cua, thu hẹp khoảng cách cận chiến xuống chỉ còn 100 đến 200 mét. Ở cự ly sinh tử ấy, khi thân xác khổng lồ của những chiếc F-4 hay F-105 choán ngợp cả kính chắn gió, ông mới ấn nút nã đạn pháo 37mm, xé toạc mục tiêu thành những quả cầu lửa rực sáng giữa không trung rồi lập tức vút lên cao thoát ly.
Những chiến công chấn động bầu trời miền Bắc
Trong giai đoạn khốc liệt nhất từ năm 1965 đến năm 1967, Bảy A xuất kích tổng cộng 94 lần, trực tiếp nổ súng trong 13 trận và hạ gục thành công 7 máy bay Mỹ các loại. Ông chính thức lọt vào danh sách 19 phi công đạt đẳng cấp "Ace" (bắn rơi từ 5 máy bay trở lên) của Không quân Việt Nam. Mỗi trận đánh của ông đều là một trang sử chói lọi.
Người ta nhớ mãi ngày 19 tháng 6 năm 1965 tại vùng trời Yên Thế. Biên đội của ông đụng độ lực lượng lớn máy bay địch. Chiếc MiG-17 của ông không may bị một quả tên lửa phát nổ gần, văng miểng làm rách bươm thân vỏ. Toàn bộ đuôi lái bị gãy nát, thân máy bay thủng chi chít tới 82 lỗ chỗ. Máy bay chao đảo, mất lực nâng và rung lắc dữ dội. Trạm chỉ huy mặt đất đã ra lệnh nhảy dù để bảo toàn tính mạng, nhưng ông quyết không bỏ máy bay. Bằng sức mạnh phi thường của đôi tay và tinh thần thép, ông ghì chặt cần lái, điều chỉnh từng li từng tí để hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Nội Bài trong sự ngỡ ngàng, thán phục tột độ của chuyên gia Liên Xô và đồng đội.
Một kỳ tích khác diễn ra vào ngày 5 tháng 9 năm 1966 tại Nam Hà. Phát hiện hai chiếc tiêm kích F-8 Crusader của Hải quân Mỹ vừa ném bom xong đang chui vào mây để lẩn trốn, ông Bảy lập tức xé mây bay tắt đón lõng. Trong tích tắc vỏn vẹn 45 giây, ông cùng phi công số 2 Võ Huy Mẫn đã luồn ra phía sau bám sát đuôi, nã pháo bắn rụng tại chỗ cả hai chiếc F-8 bọc thép dày đặc của đối phương trước khi chúng kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra. Sự mưu trí của ông còn thể hiện rõ trong trận đánh giữa năm 1967 trên bầu trời Sơn Động (Hà Bắc). Khi bị một chiếc F-4 bám đuôi và phóng tên lửa, ông lật cánh né tránh nhanh như chớp. Quả tên lửa mất mục tiêu, lao thẳng tới cắm phập vào chính chiếc máy bay đồng đội của tên phi công Mỹ, khiến nó vỡ tan trên không trung.
Lão nông tri điền hào sảng giữa thời bình và những cái ôm hòa giải
Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, người phi công huyền thoại Nguyễn Văn Bảy tiếp tục nắm giữ nhiều cương vị chỉ huy quan trọng tại Trung đoàn 923 và Sư đoàn 371 trước khi chính thức cởi bỏ bộ quân phục mang quân hàm Đại tá vào năm 1990 để nghỉ hưu.
Thay vì chọn cuộc sống tiện nghi nơi phố thị thủ đô hay đô thành hoa lệ, ông gói ghém hành trang, cùng vợ trở về với mảnh đất quê nghèo Lai Vung, Đồng Tháp. Huyền thoại của bầu trời ngày nào giờ khoác lên mình chiếc áo bà ba màu nâu sồng, quấn chiếc khăn rằn Nam Bộ mộc mạc. Trên khu vườn rộng, ông ngày ngày xắn quần lội bùn tát mương, đuổi vịt, tỉa sầu riêng, trồng sen, nuôi cá và vui với chén trà, ly rượu đế nấu thủ công cùng bà con chòm xóm. Ông từ chối mọi đặc quyền, đặc lợi, sống cuộc đời thanh bạch của một "lão nông tri điền" đúng nghĩa.
Điều kỳ diệu là căn nhà lá đơn sơ giữa vườn cây trái mênh mông của ông đã trở thành điểm đến của vô số đoàn khách quốc tế. Rất nhiều cựu phi công và các tướng lĩnh quân đội Mỹ từng là đối thủ một thời trên bầu trời đã lặn lội nửa vòng trái đất tìm đến tận nơi chỉ để được gặp lại ông. Họ được người lính già chiêu đãi bữa cơm cá đồng kho tộ, gà thả vườn nồng hậu trên chiếc sập gụ mộc mạc. Giữa họ, mọi lằn ranh của hận thù đều bị xóa nhòa. Những viên tướng Mỹ đã kính cẩn nghiêng mình, ôm chầm lấy ông, bày tỏ sự nể phục tuyệt đối trước một nhân cách lớn, bao dung, giản dị và thấm đẫm tình người.
Khúc tráng ca khép lại nhưng huyền thoại còn bay mãi
Ngày 22 tháng 9 năm 2019, trái tim của con đại bàng sông nước miền Tây đã ngừng đập sau một thời gian lâm trọng bệnh tại Bệnh viện Quân y 175 (TP.HCM). Ông thanh thản bay về cõi vĩnh hằng, hưởng thọ 83 tuổi, khép lại một cuộc đời oanh liệt, hào hùng và trọn vẹn nghĩa tình.
Ý nghĩa giáo dục và ngọn lửa truyền lại thế hệ mai sau
Câu chuyện về Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Bảy mang ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn đối với lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam hôm nay.
Trước hết, đó là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, tự rèn luyện không mệt mỏi. Từ một người mới học hết lớp 3, không ngại khó khăn gian khổ, ông đã nỗ lực vươn lên tiếp thu những tri thức khoa học hàng không phức tạp nhất để làm chủ bầu trời. Điều này thôi thúc thế hệ trẻ phải luôn có ý chí cầu tiến, khát khao chinh phục đỉnh cao tri thức.
Thứ hai, cuộc đời ông là minh chứng hùng hồn cho bản lĩnh, tư duy sáng tạo và ý chí tự lực tự cường của con người Việt Nam. Trong hoàn cảnh vũ khí khí tài thua thiệt mọi mặt, ông không hề run sợ mà biến cái khó thành cái khôn, sáng tạo ra cách đánh độc đáo để chiến thắng những công nghệ hiện đại nhất của kẻ thù. Thanh niên ngày nay cần hun đúc lòng dũng cảm, sự nhạy bén để vững vàng vượt qua mọi giới hạn trong học tập và khởi nghiệp kiến thiết đất nước.
Cuối cùng, cốt cách của "Bảy Mi-gốt" ngời sáng vẻ đẹp của anh Bộ đội Cụ Hồ: anh dũng, kiên cường trên trận mạc nhưng vô cùng giản dị, nhân ái, vị tha và gắn bó máu thịt với nhân dân trong đời thường. Tấm gương ấy nhắc nhở thế hệ thanh niên, dù bay cao, bay xa đến đâu cũng phải giữ gìn đạo lý uống nước nhớ nguồn, giữ mãi cốt cách khiêm nhường, cống hiến không vụ lợi cho quê hương, Tổ quốc. Huyền thoại về ông sẽ mãi là ngọn đuốc sáng rọi lý tưởng soi đường cho tuổi trẻ Việt Nam tự hào bước tới tương lai.


