Anh hùng Lực lượng vũ trang

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN VĂN KẾ (1933-1968)

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN VĂN KẾ (1933-1968)

Vĩnh Long22/01/2026Nguyễn Thị Diễm My (Đoàn xã Trà Ôn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Văn Kế, tên thường dùng Tư Kế. Sinh năm 1933, là con thứ 5 trong gia đình nông dân nghèo, đông con và có truyền thống cách mạng, ở xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Ông được sinh ra trong những năm Đảng mới thành lập, tiếng nói của Đảng đã đến với nhân dân Thạnh Phú. Ngay từ năm 1930, đã có những người đảng viên về Thạnh Phú tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng và hướng dẫn nông dân đấu tranh chống lại địa chủ, đòi giảm tô, giảm tức. Lúc bấy giờ ở Thạnh Phú, người nông dân rất nghèo, vì hầu hết ruộng đất đều tập trung trong tay địa chủ Lâm Quang Vĩnh. Người nông dân trở thành tá điền, phải nộp tô cao, thuế nặng, dù Thạnh Phú là vùng đất trù phú, nông dân cần cù lao động, nhưng cũng không đủ sống. Gia đình của ông cũng như bao gia đình khác, quanh năm thiếu thốn. Những người thân trong gia đình ngoài việc ruộng nương, còn phải đi làm thuê, cuốc mướn để sống qua ngày.

Khi được những người đảng viên đến tuyên truyền, gia đình ông hưởng ứng và trở thành cơ sở cách mạng tin cậy, là nơi liên lạc của những người cách mạng đến hoạt động vùng này. Cha ông là Nguyễn Văn Tán, thường canh gác cho các cuộc hội họp của Đảng, ông đã nghĩ ra cách làm hình nộm 01 người phụ nữ treo ở ngôi đình So Đũa (là nơi các cán bộ cách mạng thường đến hội họp). Từ xa trông như bóng ma, nhân dân sợ hãi không dám đến, bảo đảm an toàn cho các cuộc họp của Đảng.

Mẹ ông là Cao Thị Lựu, là cơ sở nuôi chứa và tích cực trong đấu tranh. Bà là người phụ nữ hết mực thương chồng con, hy sinh tất cả vì con. Tuổi thơ của ông được sống trong tình yêu thương của mẹ, ông được cắp sách đến trường.

Sống trong gia đình có truyền thống cách mạng và thường xuyên tiếp xúc với những người đảng viên, nên ý thức cách mạng sớm hình thành trong ông. Đến năm 15 tuổi, Pháp tái chiếm Cầu Kè và Thạnh Phú quê ông, đầy bóng giặc. Không thể ngồi nhà nhìn giặc giày xéo xóm làng, ông xin mẹ gia nhập bộ đội đánh giặc. Ông nói với mẹ: “lính đóng đồn nhiều để con đi đánh giặc, chẳng lẽ là nam nhi lại ở nhà”. Mặc dù lúc đó cha đang bị bệnh, nhưng mẹ vẫn cho ông đi vì thấy lời yêu cầu của con rất chính đáng. Ông được nhận vào vệ quốc đội, hoạt động ở huyện Cầu Kè. Vệ quốc đội chiến đấu cơ động chặn đánh giống như bộ đội, nhưng tính chất và chức năng của lực lượng này là thực hiện những nhiệm vụ do công an đề ra. Vệ quốc đội gồm có 02 bộ phận: 01 bộ phận hoạt động bên trong lòng địch, còn gọi là công an xung phong, bám sát diệt địch. Và 01 bộ phận hoạt động bên ngoài, chiến đấu giống như bộ đội. Nguyễn Văn Kế được bố trí nằm hoạt động bên trong lòng địch, anh hoạt động mang tính chất hợp pháp, cải trang vào vùng địch nghiên cứu, nắm tình hình diệt ác.

Nhập ngũ chưa được bao lâu thì đồng chí Chín Luông, 01 cán bộ quân đội, phụ trách lực lượng vũ trang của huyện Cầu Kè giao ông cùng một số đồng chí khác giải thoát cho đồng chí Đinh Trung Thành - đảng viên năm 1930, bị địch bắt giam ở huyện lỵ Cầu Kè. Do nắm được quy luật hàng ngày, cứ sáng sớm, địch dẫn đồng chí Thành đến cầu tiêu (gần nơi giam đồng chí). Ông được phân công, dẫn một tổ gồm 03 người đột nhập nằm bên dưới cầu tiêu, 03 đồng chí khác nằm cạnh đó, hỗ trợ cho tổ của ông hành động cứu thoát đồng chí Thành. Sáng sớm hôm đó, như mỗi buổi sáng bình thường khác, lính vừa dẫn đồng chí Thành đến cầu tiêu, anh em nổ súng, bọn lính hốt hoảng chưa kịp phản ứng, ông đã nhanh chóng từ dưới cầu tiêu nhảy lên bắn chết 02 tên lính, lao vào giải thoát đồng chí Thành.

Sau trận đó, ông còn tham gia đánh nhiều trận táo bạo khác ngay trong lòng địch.

Ở thị trấn Cầu Kè, có 03 tên ác ôn, chuyên đánh phá cơ sở cách mạng của ta, chúng thường trà trộn trong nhân dân, khám xét giấy tờ, len lỏi và khám xét những nơi chúng nghi có sự hoạt động của cách mạng,... Nhiều cơ sở cách mạng bị tan vỡ bởi bọn này. Không để cho chúng tồn tại nữa, đồng chí Chín Luông lệnh bằng mọi cách phải diệt cho được 03 tên này. Nhận nhiệm vụ chỉ có 04 chiến sĩ: Tư Kế, Sao, Thôi, Tiền. Cả 04 chiến sĩ đều còn nhỏ tuổi, làm liên lạc, nắm tình hình tốt, tránh được tai mắt địch, 04 chiến sĩ bám 03 tên này. Bọn chúng đi lòng vòng, một lát sau, quay sang hỏi giấy tờ của Thôi, Sao. Đi cùng với chúng còn có 04 tên lính khác. Anh Tư Kế biết đã bị lộ, nên nổ súng bắn chết 03 tên ác ôn. Bọn lính vây bắt, nhưng nhân dân ở chợ bao quanh các anh, thành một hàng rào kiên cố, bọn lính không làm gì được, các anh được cứu thoát.

Năm 1950, ông từ giã vệ quốc đội, gia nhập vào bộ đội chủ lực thuộc đơn vị D310, đóng ở Sóc Sãy (Bến Tre), chiến đấu trên địa bàn Bến Tre. Năm 1952, Bến Tre thất thủ, D310 về đóng quân ở Cây Bàn, Thầy Phó. Đơn vị của ông đã đụng độ với lính Ma Rốc, ông chiến đấu dũng cảm, đánh sáp lá cà, diệt nhiều địch, làm cho chúng không thể ngóc đầu dậy được. Trận đánh này, ông được trên thưởng 01 Huân chương Quân công hạng Ba và được kết nạp vào Đảng tuyên bố chính thức, vì đánh giặc dũng cảm vào ngày 24/9/1952.

09 năm kháng chiến chống Pháp kết thúc, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình lập lại. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tạm thời đặt dưới quyền kiểm soát của đối phương, 02 năm sau sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Trước mắt là phân vùng, chuyển quân tập kết.

Đồng chí cùng một số đồng chí khác được chọn đi, xuống tàu tập trung về Tân Duyệt (Cà Mau), sau đó ra Bắc. Nhưng đến Cà Mau, do đồng chí có kinh nghiệm hoạt động trong lòng địch nên được giữ lại miền Nam. Vì sắp tới cần có cán bộ để gây dựng lại cơ sở, hoạt động trong lòng địch, tiếp tục chiến đấu trong tình hình mới. Đồng chí cùng các đồng chí khác ở Cầu Kè lên đường trở lại quê nhà. Về đến Thạnh Phú, thời gian quy định cho chuyển quân tập kết vẫn còn. Tranh thủ thời gian còn lại, đồng chí cầm tờ báo có đăng 47 điều của Hiệp định Giơnevơ. Trong đó có mục 14C: 02 bên không được trả thù nhau, tổ chức học tập trong nhân dân. Tên đồn trưởng Ngã Hậu bắt anh, cho rằng anh hoạt động bất hợp pháp, nhưng anh lấy điều 14C của Hiệp định Giơnevơ ra đấu lý với tên này, cùng với sự đấu tranh của các bà mẹ và bà con ấp Ba, Thạnh Phú, đòi tên đồn trưởng phải thả anh ra. Tên này lúng túng, hứa chỉ giữ đồng chí 01 đêm, sau đó giải đồng chí về Trà Vinh cho tên tỉnh trưởng giải quyết. Ở Trà Vinh, đồng chí vẫn lấy điều 14C ra đấu lý với tên tỉnh trưởng, tên này đấu lý không lại, cùng với sự đấu tranh của bà con bên ngoài, tỉnh trưởng buộc phải trả tự do cho đồng chí.

Năm 1955, Diệm chủ trương xây dựng lực lượng, muốn thống nhất các lực lượng vũ trang như: lực lượng thân Pháp, Hòa Hảo, Cao Đài.

Ngày 15/5/1955, sau khi mua chuộc không được, Diệm tấn công vào lực lượng Hòa Hảo của năm Lửa đóng ở Cái Vồn. Năm Lửa thua chạy, đồng bào Hòa Hảo chạy vào vùng kháng chiến. Ta giúp đỡ đồng bào chỗ ăn nghỉ, đồng thời vận động thành lập lực lượng vũ trang giáo phái chống Mỹ - Diệm. Ta chủ trương đưa các đồng chí có kinh nghiệm hoạt động hợp pháp vào nằm trong lực lượng này.

Đồng chí được chọn vào trong lúc đang đảm trách đội giao liên Tỉnh ủy Trà Vinh. Tiểu đoàn Lý Thường Kiệt được thành lập gồm 03C: 256, 257, 258, hoạt động ở vùng ven sông Hậu, từ Tam Bình đến Lấp Vò. Đồng chí được bố trí làm trung đội trưởng trung đội 3, thuộc đại đội 256. Hoạt động ở Song Phú, Đông Thành, Tân Quới, Tân Lược, là những nơi mà trong 09 năm kháng chiến chống Pháp cơ sở cách mạng rất yếu. Muốn thâm nhập vào những nơi này trước hết người cán bộ, đảng viên phải am hiểu phong tục, tập quán của đồng bào theo đạo Hòa Hảo, phải tập ăn chay, niệm Phật, lạy 04 phương, 08 hướng và phải xá hình Đức Huỳnh Giáo chủ, xá giấy trần điều... Các đồng chí đã học tập rất kỹ và thực hành khéo léo, đồng bào theo đạo không nghi ngờ điều gì. Vào sống trong vùng có nhiều đồng bào theo đạo Hòa Hảo, chỉ được một thời gian ngắn đồng chí đã tạo được uy tín, nhân dân tin tưởng, sẵn sàng nghe theo những lời hướng dẫn của đồng chí. Thành công lớn trong việc thâm nhập và gây dựng cơ sở cách mạng, đồng chí đã thực hiện tốt khẩu hiệu “đi dân nhớ, ở dân thương”, đi đến đâu đồng chí cũng được đồng bào che chở và nuôi dưỡng.

Tháng 11/1957, đồng chí đang hoạt động ở vùng kềm, thì địch phát hiện trong lúc đang giữ một số súng và tài liệu, lập tức đồng chí được đồng bào chuyển giấu nhanh số súng và tài liệu. Khi địch bắt, trong tay đồng chí chỉ còn lá cờ của liên minh giáo phái. Không có chứng cớ gì, địch tức tối đánh đồng chí rất dã man, chết đi, sống lại nhiều lần, quyết lấy cho được lời khai, nhưng chỉ nhận được tiếng không biết.

Không khai thác được gì và thấy sức khỏe đồng chí quá yếu, địch buộc phải đưa đồng chí sang khu điều trị và dưỡng bệnh của nhà lao. Lợi dụng thời gian địch cho nằm điều trị, đồng chí tìm bắt được liên lạc với bên ngoài, gửi thư chỉ cho các đồng chí của mình biết nơi cất giấu tài liệu và vũ khí. Sau 02 tháng nằm điều trị, địch đưa đồng chí vào giam ở khám lớn Vĩnh Long. Trong nhà giam, đồng chí tiếp tục đấu tranh, tập hợp tù nhân, thành lập chi bộ gồm 10 đồng chí, hướng dẫn tù nhân đấu tranh chống lại sự ngược đãi của địch, đòi cải thiện chế độ ăn uống cho tù nhân,... Địch đã đàn áp các cuộc đấu tranh này, đánh đập dã man những người tham gia đấu tranh. Bản thân đồng chí nhiều lần bị đánh đập, nhưng địch không làm nhục ý chí chiến đấu trong đồng chí, vẫn hiên ngang, không khuất phục, tiếp tục đấu tranh, luôn gây rối loạn trong tù. Tấm gương chiến đấu đó làm cho anh em tù nhân hết sức cảm phục, sẵn sàng nghe đồng chí, tiếp tục đấu tranh. Đồng chí đã tổ chức 15 cuộc đấu tranh chống địch.

Năm 1960, sau 02 năm bị tù đồng chí được thả ra, cầm theo lời chứng nhận tốt đẹp của anh em trong tù: “trong nhà lao đồng chí anh dũng không khuất phục kẻ thù, một lòng trung thành với Tổ quốc, xứng đáng là người Đảng viên cộng sản, thà chết không khai báo lời nào”.

Ra tù, sức khỏe giảm sút do hậu quả những năm bị đánh đập tù đày, đồng chí được đơn vị cho nghỉ dưỡng bệnh, nhưng chỉ nghỉ 20 ngày, đồng chí xin được trở lại đơn vị chiến đấu. Đồng chí tiếp tục đảm trách trung đội trưởng, trung đội 3, đại đội 256, vẫn hoạt động ở vùng Bình Minh, Tam Bình. Vừa trở lại đơn vị, đồng chí lại lao vào đánh giặc.

Đêm đồng khởi 14/9/1960, đồng chí cùng đồng chí Năm Hiền được trên phân công chịu trách nhiệm đánh đồn Hòa Tân. Địch phòng thủ kiên cố, chỉ diệt được 03 góc, còn 01 góc đồn không diệt được, từ đó địch bắn ra làm cho chiến sĩ bị thương vong nhiều. Trước tình hình đó, đồng chí không lùi bước, quyết tiêu diệt cho được đồn. Bất chấp trước làn đạn của địch, đồng chí lao đến, ném lựu đạn vào góc đồn, địch im bặt, đồn bị diệt.

Năm 1961, trung đội của đồng chí được trên chỉ định đánh lính gác cầu Mỹ Thuận (Bình Minh). Đồng chí bố trí lực lượng bám sát mục tiêu. Địch không hề hay biết.

Đến giờ hành động, theo khẩu lệnh của đồng chí, các chiến sĩ xông lên, tiến thẳng vào bọn lính gác cầu Mỹ Thuận. Chỉ trong vòng 10 phút đã dứt điểm 01 trung đội lính, thu toàn bộ vũ khí.

Nhưng một lát sau, địch đưa lính đến chi viện, đồng chí đã lãnh đạo chiến sĩ bám lại tiếp tục chiến đấu chống địch. Đồng chí vừa chỉ huy, vừa anh dũng xông thẳng vào quân thù, đánh bật nhiều đợt tiến công của địch. Cuộc chiến đấu ngày một ác liệt, đồng chí cùng đồng đội cầm cự chiến đấu kéo dài trên 01 giờ đồng hồ thì đồng chí bị địch ném lựu đạn làm cháy toàn thân, đơn vị buộc phải rút, đưa đồng chí về nơi an toàn.

Tuy bị thương nặng, nhưng đồng chí không một tiếng rên, chỉ nằm im, anh em sợ đồng chí chết, rất lo lắng đến thăm hỏi, đồng chí chỉ nói không sao cả, để tôi nằm yên, đừng lo lắng gì cho tôi cả.

Sau 02 tháng rưỡi nằm điều trị, sức khỏe được hồi phục, đồng chí trở lại đơn vị, đảm nhận chức đại đội phó, đại hội 256, lại tiếp tục chiến đấu.

Ngày 14/3/1962, đồng chí tham gia trận đánh tại kinh Ông Kế, trong lúc tiểu đoàn Lý Thường Kiệt họp bàn chuẩn bị đánh thành bảo an, thì địch càn vào. Được tin báo, cán bộ chiến sĩ của đơn vị nhanh chóng triển khai lực lượng chiến đấu, diệt đại đội đi đầu, đồng chí tay cầm khẩu súng tiến thẳng vào quân thù, bắn 01 phát diệt 01 tên, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch. Khi trận đánh sắp kết thúc, đồng chí bị địch bắn bị thương ở bụng, các chiến sĩ đưa đồng chí về đơn vị, nhưng trên đường lại gặp địch phải chiến đấu. 08 giờ sáng ngày hôm sau đồng chí mới được đưa về quân y điều trị. Vết thương đã khô máu, y bác sĩ cho rằng không cứu được, nhưng còn nước còn tát nên quyết định mổ đồng chí bị đứt 09 khúc ruột, sau khi mổ đồng chí được cứu sống.

Lần bị thương này, đồng chí phải nằm điều trị trên 05 tháng, sức khỏe mới hồi phục, nhưng yếu đi nhiều, không chiến đấu được nữa. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chuyển đồng chí sang lĩnh vực khác hợp với sức khỏe, sau đó đồng chí được điều đi học lớp bắn xạ kích, thời gian 03 tháng.

Đánh giặc là một nhu cầu không thể thiếu được đối với đồng chí, nay phải từ bỏ, cảm thấy rất buồn, nhưng không vì thế mà chểnh mảng, đồng chí đã ra sức học tập, tích cực thu thập những điều mà các huấn luyện viên truyền đạt. Mãn khóa học, đồng chí đạt loại giỏi, được nhà trường giữ lại làm huấn luyện viên cho lớp bắn xạ kích do Tỉnh đội mở ở Giáo Mẹo. Đồng chí đã tích cực giảng dạy lý thuyết và thực hành, lấy ngay đồn Giáo Mẹo làm nơi thực hành cho học viên. Đồng chí bắn rất chính xác, có 01 lần bắn 07 viên đạn đã hạ 08 tên địch. Lính trong đồn Giáo Mẹo khiếp sợ, không dám bung ra đi càn quấy nhân dân. Đồng chí tận tình kềm cặp từng đồng chí với thái độ mềm mỏng, chân tình học viên đều mến phục, cùng hăng say học tập. Sau 45 ngày, thầy trò say mê luyện tập, kết quả cuối khóa, 80 học viên đều đạt loại khá, giỏi. Đó là nguồn bổ sung hết sức quý báu cho phong trào nhân dân du kích chiến đấu mới bắt đầu phát triển ở các xã, huyện trong tỉnh, các học viên về hướng dẫn cho dân quân du kích bắn tỉa đạt hiệu quả, góp phần làm hạn chế tính hung hăng của giặc.

Với thành tích đó, đồng chí được Tỉnh đội thưởng 01 khẩu súng trường bắn ха kích.

Năm 1963, đồng chí được Tỉnh đội điều về tăng cường cho Huyện đội Sa Đéc. Sau một thời gian, phong trào ở đây có chuyển biến rõ, đồng chí được sự tín nhiệm bầu vào cấp ủy Sa Đéc, giữ chức Thường vụ huyện ủy, phụ trách chính trị viên Huyện đội Sa Đéc (1965).

Tháng 6/1967, đồng chí được rút về tăng cường cho thị đội Vĩnh Long chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968.

Xuân 1968, cùng với sự tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, quân dân Vĩnh Long tiến công nổi dậy chiếm lĩnh 2/3 thị xã Vĩnh Long, làm chủ được 06 ngày đêm, riêng cánh quân do đồng chí đảm nhiệm cùng với quân chủ lực đốt phá Khu phố mới, quá trình diễn biến chiến đấu, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, chiếm lĩnh hoàn toàn khu phố mới 03 ngày đêm, diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí và phá hoại nhiều phương tiện chiến tranh.

Sau cuộc tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân, địch phản kích quyết liệt, gây cho ta nhiều khó khăn. Tình hình ở thị xã Vĩnh Long, địch phản kích liên tục nhằm đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi thị xã. Trước tình hình đó, đồng chí đã kịp thời giải quyết khâu bám trụ, đưa lực lượng luồn sâu vào vùng địch đánh địch, giữ vững cơ sở, bám sát địch suốt thời gian dài. Hành động dũng cảm của đồng chí đã củng cố niềm tin cho các chiến sĩ cùng bám lại, chiến đấu chống địch. Một lần địch phát hiện đồng chí và một số đồng chí khác còn bám lại vùng ven, đã mở cuộc càn quét, truy lùng khui hầm, tìm bắt. Chúng điều trên 1.000 quân, có máy dò mìn, chó béc giê. Khi phát hiện nơi ở của đồng chí và các đồng chí khác, địch đã mở nhiều đợt tấn công hòng đánh bật đồng chí cùng các đồng chí khác ra khỏi khu vực, nhưng suốt 01 ngày tiến công, ta vẫn giữ vững trận địa, bản thân đồng chí thường động viên chiến sĩ xử trí tình huống rất chặt, vững vàng, thể hiện hành động dũng cảm, táo bạo, tiến công. Đến 15 giờ, đồng chí bị thương nơi cánh tay, giữa lúc địch đang tấn công ác liệt, đồng chí không báo cho đồng chí khác hay mình đã bị thương, sợ anh em hoang mang vẫn tiếp tục bám trụ chiến đấu. Cuộc chiến đấu cầm cự với địch suốt ngày liền đến tối địch rút.

Địch phản kích ngày một ác liệt. Để bảo tồn lực lượng Thị đội rút về đóng ở xã Mỹ Lộc - Tam Bình. Ngày 25/12/1968, trong một trận chống càn, đồng chí đã anh dũng hy sinh trong niềm tiếc thương của đồng chí, đồng bào. Trận đánh ngày hôm đó, dưới sự chỉ huy của đồng chí, lực lượng vũ trang đã diệt gần 01 tiểu đoàn của địch. Địch chỉ còn chống cự yếu ớt, đồng chí đứng thẳng chỉ huy tiếp tục diệt những tên còn sống sót, giữa lúc đó, thì máy bay địch đến bắn pháo cứu quân địch thoát khỏi tình trạng bị tiêu diệt hoàn toàn thì đồng chí bị trúng pháo và hy sinh tại mặt trận.

Từ khi gia nhập bộ đội, đến khi hy sinh, đồng chí đã tham gia nhiều trận đánh, thọc sâu vào vùng kềm, vùng ven, thị trấn, thị xã, gây cho địch nhiều thiệt hại. Trong những năm cầm súng trực tiếp đánh giặc, đồng chí đã tham gia chiến đấu trên 32 trận lớn nhỏ, diệt 401 tên địch,...

Với thành tích đó, đồng chí được Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tặng thưởng:

- 01 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất.

- 01 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhì.

- 02 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Ba.

Và nhiều huy chương, bằng khen khác.

Ngày 06/11/1978, đồng chí Nguyễn Văn Kế vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Vừa là chiến sĩ, cán bộ quân sự, vừa là cán bộ chính trị, huấn luyện viên,... Ở lĩnh vực nào, đồng chí cũng thể hiện vai trò tiên phong gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, 13 năm trực tiếp tham gia chiến đấu, đánh giặc rất gan dạ, dũng cảm, trầm tĩnh, chỉ có xốc tới tiêu diệt quân thù. Đánh giặc thì gan dạ, không sợ hiểm nguy, còn đối với đồng chí, đồng bào thì rất hiền từ, mẫu mực, nói năng mềm mỏng, nên được dân mến, dân thương. Đồng chí luôn thể hiện là người chiến sĩ cách mạng, trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, xứng danh bộ đội cụ Hồ.

Đảng bộ cấp trên đã đánh giá về đồng chí tuy sức khỏe yếu và bị bệnh, nhưng đồng chí không nghỉ, vẫn hoạt động liên tục, đảng viên như đồng chí là đáng được cảm phục và nêu gương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn