Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Trỗi
Anh Nguyễn Văn Trỗi tại pháp trường và bút tích của Bác Hồ. Chính quyền Sài Gòn sau đó bí mật chôn xác Nguyễn Văn Trỗi tại nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, Quận 2, TP Hồ Chí Minh). Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm trong vụ cài mìn tại cầu Công Lý năm 1964, mà còn là biểu tượng của ý chí và niềm tin sắt đá ngay cả khi đối diện với cái chết. Khi bị xử tử, anh không chấp nhận rửa tội mà còn khẳng định rằng chính Mỹ và ngụy mới là kẻ có tội, l
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Trỗi
Nguyễn Văn Trỗi là một trong những anh hùng cách mạng nổi bật của Việt Nam, người đã hy sinh dũng cảm trong cuộc chiến chống lại quân xâm lược Mỹ. Cuộc đời và sự nghiệp của anh là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần kiên cường và ý chí sắt đá.
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1 tháng 2 năm 1940 tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là con thứ ba trong một gia đình bần nông và mất mẹ từ nhỏ. Trước sự đàn áp của Mỹ – ngụy tại Duy Xuyên, gia đình anh đã di cư vào Sài Gòn vào năm 1956, định cư tại ấp Tân Ba, Phú Nhuận, thuộc quận Tân Bình. Tại đây, anh vừa làm thuê kiếm sống vừa học nghề điện và sau đó trở thành công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán, anh đã chủ động tiếp cận và được giác ngộ bởi tổ chức cách mạng. Sau đó, anh được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng Việt Nam.
Năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập đội biệt động Sài Gòn, trở thành một chiến sĩ xuất sắc. Trong quá trình hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Nguyễn Văn Trỗi nhập ngũ vào ngày 17 tháng 2 năm 1964, cũng từ đây, anh hoạt động xuyên suốt trên địa bàn thành phố Sài Gòn cho đến khi hy sinh vì bị xử bắn vào ngày 15 tháng 10 cùng năm.
Sự kiện đặt mìn ở cầu Công Lý
Khi biết phái đoàn quân sự cao cấp của Mỹ do Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu sẽ tới Sài Gòn vào tháng 5/1964, lực lượng cách mạng đã lên kế hoạch tiêu diệt McNamara. Dù mới cưới vợ hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn xung phong nhận nhiệm vụ cài mìn tại cầu Công Lý – nơi phái đoàn dự kiến sẽ đi qua. Ngày 9/5/1964, Nguyễn Văn Trỗi lên kế hoạch kích hoạt mìn bằng điện đặt dưới chân cầu Công Lý. Tuy nhiên, kế hoạch bị bại lộ và anh bị địch bắt.
Anh Trỗi (bên trái) và anh Lời lúc bị bắt cùng với quả mìn (Ảnh tư liệu của chế độ cũ).
Lúc đầu, Nguyễn Văn Trỗi bị đưa về Nha cảnh sát. Vài ngày sau, ông nhảy lầu để trốn thoát và đã bị thương ở chân, rồi lại bị bắt lại và đưa về giam ở Khám Chí Hòa cùng với nhiều đồng đội khác như Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Thị Châu. Mặc dụ bị tra tấn với mục đích tra hỏi nhưng ông không khai gì. Để bảo đảm an toàn cho tổ chức và đồng đội, Nguyễn Văn Trỗi đã nhận tất cả trách nhiệm về mình.
Chính quyền Nguyễn Khánh đã rất muốn đẩy nhanh việc tử hình Nguyễn Văn Trỗi vào cuối tháng 8 năm 1964. Tuy nhiên, việc này phải tạm ngưng lại vì sau ngày 25 tháng 8 năm 1964, các phong trào biểu tình chống Nguyễn Khánh diễn ra khiến tình hình chính trị bất ổn, các cuộc binh biến diễn ra liên tiếp.
Sau đó, chính quyền Nguyễn Khánh dự định xử bắn Nguyễn Văn Trỗi vào ngày 7 tháng 10 năm 1964. Biết tin này, nhóm "Biệt đội du kích quân" chống chế độ thân Mỹ tại Venezuela đã đề nghị trao đổi con tin là sĩ quan Mỹ Michael Smolen bị họ bắt cóc ở Caracas. Vì có kẻ mật báo với cảnh sát về họ, những người bắt cóc buộc phải thả Smolen trước khi họ có được thỏa thuận nào.
Nguyễn Văn Trỗi sau đó bị đưa đi xử bắn tại sân sau nhà lao Khám Chí Hòa lúc 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng 10 năm 1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài.
Trước khi bị xử tử, Nguyễn Văn Trỗi đã hô lớn: "Hãy nhớ lấy lời của tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh! Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!".
Anh Nguyễn Văn Trỗi tại pháp trường và bút tích của Bác Hồ.
Chính quyền Sài Gòn sau đó bí mật chôn xác Nguyễn Văn Trỗi tại nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, Quận 2, TP Hồ Chí Minh).
Nguyễn Văn Trỗi không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm trong vụ cài mìn tại cầu Công Lý năm 1964, mà còn là biểu tượng của ý chí và niềm tin sắt đá ngay cả khi đối diện với cái chết. Khi bị xử tử, anh không chấp nhận rửa tội mà còn khẳng định rằng chính Mỹ và ngụy mới là kẻ có tội, là thủ phạm gây ra cảnh xóm làng tan nát, nhân dân lầm than, con mất cha, vợ mất chồng.
Trong thời gian bị giam giữ, Nguyễn Văn Trỗi đã chịu đựng nhiều cực hình tra tấn nhưng luôn giữ vững tinh thần của người cộng sản, bảo vệ cơ sở cách mạng và tìm cách vượt ngục để tiếp tục chiến đấu. Anh từng nói với kẻ thù: “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả.” Câu nói này không chỉ gây xúc động mạnh mẽ cho nhân dân Việt Nam mà còn cho cả những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi sự hy sinh, dũng cảm và lòng kiên trung của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là các cháu thanh niên học tập.”
Trong phiên họp bất thường ngày 17/10/1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quyết định truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước đã truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh
Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành tấm gương sáng ngời cho hàng triệu người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình và công lý. Tinh thần của anh đã cổ vũ, khơi dậy ý chí chiến đấu gan dạ và sục sôi trong tầng lớp thanh niên.
Lời hô vang của anh tại pháp trường như tiếng kèn xung trận, thúc giục và khích lệ cả nước tiến lên chống giặc. Phong trào học tập theo tấm gương Nguyễn Văn Trỗi đã lan rộng khắp cả nước, thanh niên trên mọi miền Tổ quốc đã noi theo anh, góp phần làm nên chiến thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hình ảnh và câu chuyện của Nguyễn Văn Trỗi đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật. Các tác phẩm tiêu biểu như bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu, bài hát “Lời anh vọng mãi ngàn năm” của Vũ Thanh, phim tài liệu “Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi” và phim truyện “Nguyễn Văn Trỗi” của đạo diễn Bùi Đình Hạc.
Cuộc đời và sự hy sinh của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi là một bài học về lòng yêu nước và sự dũng cảm. Anh đã trở thành tấm gương sáng ngời cho nhiều thế hệ thanh niên noi theo. Tại yeulichsu.edu.vn, chúng tôi hy vọng rằng qua tóm tắt tiểu sử này, quý độc giả sẽ thêm tự hào về lịch sử dân tộc và trân trọng hơn những giá trị mà các anh hùng đã để lại. Hãy cùng chúng tôi tiếp tục khám phá và giữ gìn những trang sử hào hùng của Việt Nam.



