Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Hạnh Phúc
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Hạnh Phúc
Thượng tá Phạm Hạnh Phúc[1] sinh ngày 6/10/1947, quê quán tại xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Đồng chí nguyên là Trung đội trưởng D6 Đặc công, chiến đấu tại chiến trường B2, miền Đông Nam Bộ.
Những năm 1965, Tổng thống Mỹ Lyndon B.
Johnson phát động chiến lược Chiến tranh cục bộ tại Việt Nam với mục đích tiêu diệt chủ lực đối phương, bình định miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô lớn.
Trong bối cảnh ấy, miền Bắc mỗi người làm việc bằng 2, thanh niên 3 sẵn sàng, phụ nữ 3 đảm đang, dốc sức chi viện miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ý thức được trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, năm 1967, chàng trai Phạm Hạnh Phúc đang là sinh viên năm thứ 3 ngành kiến trúc đã xếp bút nghiên, đèn sách để nhập ngũ.
Từ tháng 6/1967 đến tháng 10/1967, đồng chí Phạm Hạnh Phúc là hạ sĩ, tiểu đội trưởng C3 - D3 - F338. Từ tháng 10/1967 đến tháng 12/1967, đồng chí là Trung sĩ, tiểu đội trưởng D3 - Đoàn 2265. Nhắm thẳng chiến trường xốc tới, Phạm Hạnh Phúc cùng đồng đội ngược dòng sông Gianh - Quảng Bình đổ bộ lên biên giới Việt - Lào, xuyên suốt đường Trường Sơn về căn cứ Miền, xuống chiến trường B2 - miền Đông Nam Bộ. Sau hơn 3 tháng đi bộ, leo đồi, vượt sông suối, vượt đèo, vượt trọng điểm đầy gian khổ, hy sinh nhưng đầy khí phách vẻ vang.
Từ tháng 1/1968 đến tháng 5/1971, Phạm Hạnh Phúc là Thượng sĩ, D6 đặc công B2 miền Đông Nam Bộ. Thời điểm năm 1969, đồng chí được cử đi tập huấn kỹ thuât đặc công ở B2 tỉnh Long - Bà - Biên. Sau khi hoàn thành khóa tập huấn, đến tháng 1/1972, đồng chí được giao nhiệm vụ trung đội phó, mũi phó trung đội trinh sát D6 đặc công B2 miền Đông Nam Bộ. Một tháng sau, đồng chí trở thành Trung đội trưởng của đơn vị này. Từ tháng 3/1973 đến 30/4/1975, đồng chí Phạm Hạnh Phúc là Trung đội trưởng Trung đội trinh sát D6 đặc công Biên Hòa B2, miền Đông Nam Bộ.
Những năm tháng hoạt động, công tác, chiến đấu trên địa bàn Long - Bà - Biên, đồng chí Phạm Hạnh Phúc đã tham gia ba chiến dịch lớn trên Chiến trường B2 miền Đông Nam Bộ: chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, chiến dịch Nguyễn Huệ - mùa hè đỏ lửa năm 1972 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Xuất phát từ những căn cứ: Chiến khu Đ, chiến khu Rừng Sác - Nhơn Trạch, Suối Tre, Bàu Cạn, Suối Cả, Bình Sơn, đến căn cứ núi Minh Đạm, Châu Đức (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)... đồng chí Phạm Hạnh Phúc đã tham gia hàng chục trận đánh lớn, nhỏ, hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chiến đấu của một mũi trưởng trinh sát đặc công - Tiểu đoàn 6 đặc công, góp phần cống hiến vào những chiến công của đơn vị. Vào ngày 17/12/1972, đồng chí vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trải qua những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, lạt muối đói cơm, nắng núi, mưa ngàn, đồng chí Phạm Hạnh Phúc luôn khắc ghi sâu đậm về ký ức, cuộc đời của những người lính máu xương pha trộn tình người, tình đồng chí, đồng đội. Chính vì thế, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đảm nhận nhiệm vụ trợ lý chính sách, phụ trách về công tác chính sách đối với liệt sĩ và mồ mả liệt sĩ thuộc Phòng Chính trị, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai, Phạm Hạnh Phúc luôn xem đó là vinh dự và là nhiệm vụ thiêng liêng. Đồng chí nghỉ hưu năm 2007, nhưng trái tim người lính “Bộ đội Cụ Hồ” không ngơi nghỉ.
Cụ thể, riêng năm 1989, đồng chí tham gia quy tập 237 hài cốt liệt sĩ ở Chiến khu Đ, 193 mộ liệt sĩ hy sinh trên tuyến biên giới Tây Nam. Từ năm 1990 đến năm 1997, đồng chí góp phần hoàn thành cơ bản việc quy tập hài cốt tất cả liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên địa bàn tỉnh (500 mộ) và liệt sĩ làm nghĩa vụ quốc tế hy sinh ở Campuchia (467 mộ).
Với những thành tích đạt được, đồng chí Phạm Hạnh Phúc được tặng thưởng: 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba, 3 Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba, 1 Huy hiệu Dũng sĩ diệt xe tăng cấp hai, và nhiều Huy hiệu khác. Đồng chí Phạm Hạnh Phúc được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân theo quyết định số 396/QĐ.CTN do Chủ tịch Nước ký ngày 2/7/2002
[1] Nguồn: Thông tin do nhân vật cung cấp.



