ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN THIẾU TÁ TÌNH BÁO NGUYỄN VĂN THƯƠNG
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN THIẾU TÁ TÌNH BÁO NGUYỄN VĂN THƯƠNG
Khi nhắc đến lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam, tôi lại không ngừng suy nghĩ về việc mình có nên trưởng thành khi đó? Những suy nghĩ ngổn ngang, hoang mang và sự khâm phục đối với các anh hùng chiến sĩ – họ kháng chiến. Và trong số đó, câu chuyện về một người anh hùng với biệt danh là “sinh vật bằng thép”, mỗi khi gọi ông bà sẽ “Cha Lí”, “Ngoạc cổ”, dù chỉ bao nhiêu lần ra tới, dù đổ máu vẫn vào một lòng hướng về đất nước, hướng về đồng đội khiến ông không hề lung lay dù chỉ nửa độ. Đúng vậy, ông chính là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Thiếu tá tình báo Nguyễn Văn Thương.
Anh hùng Nguyễn Văn Thương còn thường được gọi là Hai Thương, sinh năm 1938 và mất năm 2018. Ông sinh ra ở xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Tuổi thơ của ông gắn với nỗi đau mất mẹ, xa cách cha từ nhỏ, mẹ ông bị bắt đày đi Côn Đảo rồi hy sinh năm 1946. Ông là một tình báo viên kiên trung, bất khuất, nổi tiếng với tinh thần dũng cảm khi bị địch tra tấn dã man (đã cưa chân) trong chiến tranh Việt Nam.
Từ nhỏ, ông được gửi vào trường Đạo Đức học Đường Thuộc phạm vi quản lí của Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông Thương bắt đầu nhập ngũ năm 1958 và đến tháng 5 năm 1959 ông đã tham gia cách mạng. Rồi chiến tranh năm 1964, sau khoảng thời gian đi học nghiệp vụ sĩ quan, ông đã được chọn làm vệ sĩ cho đồng chí Sáu Dân (đồng chí Võ Văn Kiệt khi đó là Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Gia Định).
Khi cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam dân tộc bước vào giai đoạn khốc liệt, Trung ương Đảng chủ trương thành lập lực lượng tình báo miền Nam. Nguyễn Văn Thương được tổ chức chọn sang hoạt động tình báo, đặt dưới sự quản lý trực tiếp và huấn luyện của đồng chí Mười Nho (đại tá Nguyễn Nho Quý – Trưởng ban tình báo khu Sài Gòn – Chợ Lớn). Ông Nguyễn Văn Thương dưới mật danh là “Tư Hiếu”, người “bao bánh mì”, ông hoạt động tại khu vực “Đông Nam Bộ (từ Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai đến Sài Gòn). Nhiệm vụ chính của ông là chuyển tin tức từ các điệp viên được cài sâu trong chính quyền Sài Gòn về Trung ương Cục miền Nam. Trong quá trình hoạt động, ông đã chuyển 900 tin báo đến chiến khu an toàn, giúp Bộ Chính trị và Trung ương Đảng đưa ra các sách lược chính trị kịp thời để đối phó với địch.
Vào ngày 10/2/1969, trong lần chuyển tài liệu từ Sài Gòn ra căn cứ, ông đã gặp phải một tốp địch đang đi càn. Vũ khí duy nhất là khẩu súng ngắn K54, ông giấu tài liệu vào chỗ bí mật và kiên quyết chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Nhưng lực lượng quá đông nhưng ông chỉ có một mình, nên rồi sau đó Hai Thương đã bị bắt sống vào lúc 7h30 ngày hôm đó. Đây cũng là chuyến giao liên cuối cùng của Hai Thương.
Sau khi bắt được ông, bọn địch đã đưa ông về căn biệt thự ở Sài Gòn. Trong nhà có người hầu, ba bữa cơm đồ ăn đầy đủ, ở gần ông Thương còn một cô gái gốc Huế xinh đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ, được học hành bài bản. Mọi thứ được bố trí như để mở ra một con đường sống khác. Nhưng Hai Thương hiểu rõ người Mỹ không chỉ đưa ông vào đây để dưỡng thương. Sau cùng, đó là mùi mồi để có thể moi cho bằng bí mật trong đầu ông và mở màn đánh tâm lý được dựng lên càng phức. Trong biệt thự, họ giam lỏng ông trong sự đầy đủ, tình cảm, bao bọc cho ông bằng tiền bạc, sự đầy đủ, xe cộ, địa vị, nhà lầu, xe hơi, gái đẹp. Xung quanh không thấy lính gác, chỉ có canh ngầm theo dõi chặt. Mọi thứ trông dễ dàng, ngọt ngào. Nhưng người chiến sĩ tình báo hiểu rõ phía sau cái cổng im lìm là những họng súng đã giương sẵn. Vòng vây tưởng vô hình nhưng là lưỡi lê, viên đạn bọc đường siết chặt từng phút.
Mỗi ngày trôi qua đối với ông như cuộc đấu trí căng thẳng giữa Hai Thương và cô gái tên Thùy Dương. Từ việc hầu hạ, chăm sóc vết thương cho ông Thương, việc nhỏ nhặt phục vụ ông. Cô vẽ ra cho ông tương lai “một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Nhưng ông Thương khi nói chuyện với Thùy Dương đều rất thận trọng và cân nhắc mọi lời nói. Ông đoán rằng trong người Thùy Dương cài sẵn máy ghi âm nên ông tránh kéo dài cuộc trò chuyện, ông thường tìm cách đứng dậy, bước ra nhà hoặc cắt ngang cuộc nói chuyện. Nhưng Thùy Dương cũng không phải đối thủ dễ đối phó. Dù những câu trả lời nhạt nhẽo, thái độ bực mình, cô không hề nổi nóng mà luôn kiên nhẫn, lúc nào cũng nhẹ nhàng với ông. Rồi dần sự kiên nhẫn cũng cạn kiệt, Thùy Dương chủ động tiến gần vào phòng ngủ nhưng ông Thương nếu mềm lòng và bị quyến rũ, đồng nghĩa sẽ không còn là Nguyễn Văn Thương, dù năm năm chiến đấu vừa qua, mà trở thành một kẻ phản bội đất nước, phản bội đồng đội và cả những người thân yêu đang đợi ông. Nhưng điều đó khiến ông càng quyết tâm hơn. Rồi đến ngày cuối cùng ở biệt thự, Thùy Dương thử một lần cuối dụ dỗ, hăm dọa nhưng ông đã kiên định, khẳng khái và chỉ đáp lại vẻ bọc cười: “Ông xưng mình là Nguyễn Trương Hân, lạnh lùng nói “Các người muốn làm gì thì làm”. Rồi sáng hôm sau, hai người Mỹ to con đến còng tay ông dẫn đi. Thùy Dương là vẻ bất lực chấp nhận thất bại 100 ngày giăng bẫy.
Chiếc xe xít bùng rời khỏi biệt thự, khởi lại một dư đồ, giam lỏng 100 ngày không mua được đức tại thuộc kẻ địch buộc mở quá trình tra tấn cực hình. Chúng quyết định cắt sống đôi chân ông, tấn công 6 lần trong suốt 3 tháng.
“Tôi không thể diễn tả sự đau đớn chồng chất cho đến khi bàn chân tôi rơi ra” Thiếu tá Nguyễn Văn An kể lại.
Cuộc giằng co giữa ông tù Thương và bọn địch diễn ra rất dài, khiến sĩ quan cao cấp Mỹ không giải nổi hình hài ngục. Họ chứng kiến một con người mất máu, sốt cao, thân thể dần tàn phế nhưng ý chí không hề gục đổ. Sau đợt cưa chân lần thứ 6, cơ thể ông chỉ còn da bọc xương, cân nặng chỉ còn bằng đứa trẻ, dường như nếu ngã lâu nữa là các xương sẽ vỡ vụn, song nằm trên cang nhưng ánh mắt vẫn tỉnh táo lạ thường.
Trung tá Mỹ đến, nhìn thân thể chỉ còn một nửa của ông, thốt lên: “Ông là sinh vật bằng thép, chúng tôi chịu thua ông”.
Tinh thần bất khuất kiên trung của Nguyễn Văn Thương đã trở thành một tấm gương sáng cho các chiến sĩ. Ngày 14/2/1973, Nguyễn Văn Thương được trở về theo quy định của Hiệp định Paris. Đến nay, di chứng của hàng trăm vết thương do địch tra tấn khiến ông đau nhức nhưng đôi mắt ông vẫn sáng ngời hình ảnh Tổ Quốc.
Với những đóng góp của mình, ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, Huân chương chiến công giải phóng hạng 3, 14 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ Diệt Mỹ, 2 lần là chiến sĩ thi đua và được tặng bằng, giấy khen,...
Ngày 6/11/1978, ông Nguyễn Văn Thương được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Vào ngày 13/8/2018 tại nhà riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Thương đã qua đời. Khép lại một cuộc đời đầy kiêu hãnh, tuy ông đã đi nhưng những việc ông đã làm cho đất nước thì còn sống mãi. Cũng nhờ có ông mà đất nước ta mới có được hòa bình như ngày hôm nay. Ông chính là một tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí bất khuất và hơn hết là một tấm lòng yêu nước nồng nàn.
Bản thân tôi đã rất xúc động và cảm phục trước sự dũng cảm, hi sinh của ông. Dù cơ bị tra tấn dã man nhưng vẫn một lòng vì nước. Tôi sẽ sống thật tốt, sẽ tự hào vì là người Việt, để đời mình được sống trong hòa bình mà ông cha ta phải hi sinh cả mạng sống để có thể dành được. Tôi hứa sẽ học thật tốt để có thể trở thành một người có ích cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh hơn.



