ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN-TRẦN THỊ LÝ
Giữa nhịp sống rực rỡ của Đà Nẵng hôm nay, mỗi lần nhìn những con đường, những bãi biển hay những mái nhà ven sông Hàn, ta vẫn cảm thấy như có một làn gió từ quá khứ thổi về, mang theo hơi thở nồng đượm của “thời hoa lửa”. Đó là những năm tháng mà con người Đà Nẵng đã sống và đứng vững bằng một ý chí gan thép, bằng lòng yêu quê hương âm ỉ như ngọn lửa cháy trong lồng ngực. Từ những bóng dáng bình dị giữa chiến tranh—những đôi bàn tay làm nên sức mạnh, những bước chân bám trụ trong hiểm nguy—đã khắc lên đất này vẻ đẹp kiêu hùng mà hôm nay ta vẫn lặng lẽ tri ân. Chính quá khứ ấy đã tạo nên một Đà Nẵng kiên cường, để rồi từ tro tàn, thành phố trẻ vươn mình, sáng bừng và đầy sức sống.
Và cũng từ những năm tháng ấy, có những câu chuyện đã hóa thành biểu tượng, để hôm nay khi chúng ta bước qua những cây cầu vắt mình giữa sông Hàn, quá khứ như khẽ lay bởi từng bước chân. Trong khoảnh khắc ấy, cầu Trần Thị Lý hiện lên như dấu nối của một thời hoa lửa, gợi nhắc về người phụ nữ kiên cường, bất khuất, chị Trần Thị Lý, người đã dành trọn tuổi trẻ của mình cho cuộc chiến giành độc lập. Từ một cô gái Đà Nẵng bình dị, chị bước vào chiến trường với đôi tay trần và trái tim rực lửa, chịu đựng những đòn tra tấn tàn khốc nhưng vẫn giữ vững khí phách không bao giờ khuất phục.
Anh hùng Trần Thị Lý, tên khai sinh là Trần Thị Nhâm sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí nguyên là đảng viên, cán bộ giao liên của tỉnh.
Năm 12 tuổi, Trần Thị Lý tham gia Thiếu nhi cứu quốc của xã. Năm 1946, đồng chí được điều về làm cán bộ văn phòng thanh niên cứu quốc huyện Điện Bàn và là Thường vụ Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc huyện. Năm 1951-1952, chị được Đảng giao nhiệm vụ đi xây dựng cơ sở ở xã Điện Hồng, vùng thực dân Pháp tạm chiến. Những năm tháng trụ bám hoạt động cùng với đồng chí, đồng đội trên quê hương, đầu năm 1952 chị bị thực dân Pháp và tay sai địa phương vây bắt và đưa về giam tại đồn Vân Ly-Gò Nổi. Tháng 4 năm 1955, Trần Thị Lý phụ trách đường dây liên lạc bí mật của tỉnh tại Đà Nẵng. Thời gian này địch kiểm soát gắt gao, lùng bắt cán bộ ta nằm vùng ở khắp các địa phương, chị đã liên lạc, tập hợp các đồng chí ở các huyện, tìm cách lánh ra Đà Nẵng tránh được sự tổn thất cho cách mạng. Tháng 6 năm 1955, Trần Thị Lý bị địch bắt lần thứ hai, chúng tra tấn vô cùng dã man, nhưng chị vẫn kiên quyết không khai, bảo vệ bí mật của Đảng và cơ sở cách mạng. Sau 5 tháng giam cầm, tra tấn không khai thác được gì, chúng buộc phải trả tự do cho chị. Tháng 6 năm 1957, trong lúc đang làm nhiệm vụ, Trần Thị Lý bị địch bắt lần thứ ba. Mặc dù phải chịu mọi cực hình tra tấn cực kỳ dã man của kẻ thù “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung”, nhưng tinh thần chị không hề lay chuyển. Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, địch cho rằng chị không thể sống được nữa nên đem vứt chị ngoài nhà lao. Trần Thị Lý được cơ sở đưa về nhà chăm sóc, sau đó được đưa ra khỏi Gò Nổi và được tổ chức đưa ra miền Bắc chữa trị các vết thương.
Bác sĩ đang chăm sóc vết thương cho chị Trần Thị Lý, năm 1958.
Sự kiên trì bất khuất của người con gái xứ Quảng đã giúp chị trải qua bao tra tấn ở nhà tù Mỹ-Diệm, trở về từ cõi chết. Tại Bệnh viện Việt Xô, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vào thăm chị và vô cùng xúc động khi thấy chị trong cơn mê sảng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí miền Nam tập kết ra Bắc đều tới thăm chị Lý. Không chỉ vậy, các bạn bè quốc tế Liên Xô, Ba Lan, Mông Cổ, Hungari, Pháp…và đồng bào ta ở nước ngoài đều khâm phục sự chịu đựng thần kỳ và gửi tấm lòng chia sẻ nỗi đau thương của chị.
Chị Trần Thị Lý trên giường bệnh với bó hoa của thi sĩ Liên Xô An- tô Côn-sky.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của chị Trần Thị Lý gắn liền với chặng đường đấu tranh anh dũng chống đế quốc Mỹ của đồng bào miền Nam và của nhân dân cả nước ta. Được rèn luyện, thử thách trong các giai đoạn đấu tranh cách mạng, lúc bí mật, lúc công khai, suốt trong những năm tháng sống trong tù đày, tra tấn, chị luôn nêu cao phẩm chất sáng ngời của một cán bộ cách mạng kiên trung, vững vàng trong mọi tình huống. Chị là một biểu tượng cho tinh hoa của người con gái Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, cho ý chí kiên cường của dân tộc ta “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.
Năm 1992, những vết thương hiểm nghèo của chị tái phát và chị đã qua đời tại bệnh viện C- Đà Nẵng. Ngày 2 tháng 2 năm 1992, với những cống hiến của mình, chị Trần Thị Lý được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời của chị Trần Thị Lý như một ngọn lửa âm ỉ cháy xuyên qua tháng năm, để lại trong lòng Đà Nẵng dấu ấn của một con người đã bước qua đau đớn mà không bao giờ khuất phục. Giờ đây, cây cầu mang tên chị vươn mình qua sông Hàn như một dải sáng mềm, nối quá khứ hoa lửa với nhịp thở bình yên của thành phố hôm nay. Giữa dòng người hối hả, mỗi lần nhìn về phía cầu, ta lại như nghe lịch sử khẽ gọi tên những con người đã giữ cho mảnh đất này đứng vững giữa bão tố. Đà Nẵng đang đổi thay từng ngày, nhưng trong ánh đèn trên cầu Trần Thị Lý vẫn còn ánh lửa kiên cường của chị — lặng lẽ, bền bỉ và đầy tự hào.



