ANH HÙNG LỰC LUONWGK VŨ TRANG NHÂN DÂN

Lê Thị Riêng (1925-1968) là nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, biểu tượng tiêu biểu của tinh thần yêu nước và dũng cảm của phụ nữ miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Bà sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo tại Bạc Liêu, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sớm tham gia cách mạng khi mới 16 tuổi. Suốt đời bà hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc; bà đã tổ chức và phát triển phong trào phụ nữ khắp Nam Bộ, trực tiếp lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Trong những ngày bị địch bắt giữ, dù chịu cực hình tra tấn dã man, bà vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng và anh dũng hy sinh đúng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968. Cuộc đời và những trang nhật ký đẫm máu chiến đấu của bà mãi là tấm gương sáng ngời về lòng trung kiên, ý chí bất khuất cho các thế hệ mai sau.
Lê Thị Riêng sinh năm 1925 tại xã Vĩnh Mỹ, huyện Giá Rai (nay thuộc xã Hòa Bình, huyện Hoà Bình, tỉnh Cà Mau) trong một gia đình nông dân nghèo. Tuổi thơ bà trải qua nhiều khó khăn: mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhưng chính điều đó đã hun đúc ở bà lòng căm thù kẻ thù và khát vọng giải phóng dân tộc. Khi mới 16 tuổi, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, bà đã gia nhập phong trào cách mạng ở Bạc Liêu với bí danh “Hai Riêng”. Những năm 1940-1950, bà lần lượt đảm nhận nhiều vị trí quan trọng trong phong trào phụ nữ cứu quốc ở Nam Bộ. Bà được kết nạp Đảng Cộng sản năm 1948, làm cán bộ phụ trách Phụ nữ cứu quốc tỉnh Bạc Liêu và sau đó trở thành Phó Hội trưởng Hội Phụ nữ Cứu quốc Miền Đông. Khi phong trào Đồng Khởi nổ ra ở Bến Tre năm 1960, bà được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam và là Ủy viên Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Bà trực tiếp vận động, đào tạo cán bộ, xây dựng cơ sở cách mạng ở Sài Gòn - Gia Định, thúc đẩy phong trào phụ nữ đấu tranh chống Mỹ và bè lũ tay sai, góp phần quan trọng cho thắng lợi của phong trào Đồng Khởi và các cuộc đấu tranh ở miền Nam.
Trong thời gian công tác, bà gặp và kết hôn với một cán bộ cách mạng là Lê Văn Ba (sau đổi là Lê Trọng Tam). Hai người có hai con trai là Minh Chánh và Chí Công. Năm 1960, chồng bà hy sinh trong một trận đánh ở Biên Hòa, bà đau đớn tưởng nhớ trong nhật ký: “Đời tôi đã trải qua lắm lần tang tóc… Đời tôi phải chiến đấu cho hạnh phúc không tan, cho con sớm gần mẹ, cho mọi người không còn tang tóc”. Sau đó, để bảo đảm công tác, bà đưa hai con ra miền Bắc nuôi dưỡng và âm thầm trở lại Nam Bộ tiếp tục hoạt động cách mạng.
Đầu năm 1967, Lê Thị Riêng được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí và giao liên trong nội đô Sài Gòn. Ngày 9/5/1967, trên đường đi công tác ở khu vực chợ Đa Kao (quận 1, TP. Hồ Chí Minh), bà bị một tên phản bội nhận diện và giao cho mật vụ Sài Gòn bắt giữ. Dù bị giam ở Biệt đội 23 và sau đó chuyển về phòng thẩm vấn của Cơ quan Tình báo CIA, bà vẫn kiên quyết không khai báo bất cứ thông tin gì. Địch đem bà ra tra tấn dã man: đánh đập, châm điện, đốt đầu ngón tay, cắt tóc, dìm nước… nhưng bà một lòng quyết tâm giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ngày 31/1/1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân), đúng đêm đồng bào Sài Gòn - Gia Định nổi dậy kháng chiến, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh thủ tiêu bà tại bốt Bà Hòa (nay đường Hồng Bàng, quận 5, TP. HCM). Trước khi chết, bà bảo vệ đồng đội: theo lời người chứng kiến, Lê Thị Riêng đã lấy thân che đạn cho đồng chí Phùng Ngọc Anh - nữ biệt động nổi tiếng - nên Ngọc Anh may mắn sống sót. Chiếc kẹp tóc của bà đã được Phùng Ngọc Anh giữ lại làm kỷ niệm cho hành động anh dũng đó. Sự hy sinh của bà đã để lại dấu ấn sâu đậm: ngay sau ngày đất nước thống nhất, bà được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (theo Quyết định 145/CTN ngày 13/5/1973 và Quyết định 149/QĐ-CTN ngày 2/8/1993 của Chủ tịch nước). Tên của bà được đặt cho nhiều công trình và địa danh trên khắp cả nước: trường học, đường phố, tượng đài và đặc biệt là Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng ở quận 6, TP. Hồ Chí Minh.
Hình tượng Lê Thị Riêng - một người nữ chiến sĩ bất khuất, tận trung với lý tưởng và tận hiến vì đất nước - vẫn là nguồn cảm hứng lớn đối với nhân dân Việt Nam. Cuốn nhật ký bà để lại chứa đựng tâm sự của người mẹ xa con vì kháng chiến, thể hiện ý chí và tâm hồn người anh hùng: “Cho Bắc Nam thống nhất / Cho đất nước hòa bình / Cho con được hưởng trọn tình thương của mẹ”. Những dòng thơ đầy xúc động và cuộc đời chiến đấu kiên cường của bà mãi là tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và lòng vị quốc vị dân không khuất phục.



