Anh hùng Lưu Nhân Chú trong đời sống tâm linh của người dân tỉnh Thái Nguyên
Anh hùng Lưu Nhân Chú trong đời sống tâm linh của người dân tỉnh Thái Nguyên
Lưu Nhân Chú sinh ra ở vùng quê Thuận Thượng (nay là xã Vạn Phú, tỉnh Thái Nguyên), trong một dòng họ bốn đời làm phiên trấn Thái Nguyên, ông sớm được giác ngộ lòng yêu nước và ý chí đánh đuổi giặc ngoại xâm diệt giặc. Hơn năm trăm năm về trước, khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ (1418), cha con Lưu Nhân Chú đã là những người đầu tiên có mặt dưới lá cờ khởi nghĩa của Lê Lợi. Là một trong những người tham dự Hội thề Lũng Nhai, chỉ huy trực tiếp nhiều trận đánh lớn của nghĩa quân Lam Sơn, Lưu Nhân Chú được Lê Lợi tin cẩn, quý trọng và giao cho nhiều trọng trách. Ông có những cống hiến to lớn trong kháng chiến, trong việc thành lập vương triều nhà Lê, một vương triều thịnh đạt trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.
Lưu Nhân Chú là một trong các tướng cầm quân, chiến đấu rất tài trí và dũng mãnh. “Ông xông lên trước hãm trận, thu được toàn thắng, nổi tiếng một thời” (Đại Việt thông sử)... Năm 1425, Lê Lợi phái các tướng: Lý Triện, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị đem 2.000 quân tinh nhuệ và 3 voi chiến tiếp ứng cho Đinh Lễ, cùng đánh úp thành Tây Đô.
Tháng 9-1426, Lê Lợi quyết định đưa 3 đạo quân tiến ra Bắc theo 3 hướng. Đạo quân thứ 2 do Lưu Nhân Chú, Bùi Bị chỉ huy, tiến ra vùng Thiên Trường, Tân Hưng, Kiến Xương… Tháng 3-1427, Lưu Nhân Chú được phong chức Hành quân đô đốc tổng quản, Nhập nội đại tư mã, lĩnh 4 vệ Tiền, Hậu, Tả, Hữu, kiêm coi việc quân Tân vệ. Tháng 6 năm đó, Lê Lợi phong cho ông chức Tư không và dặn rằng: "Chức tước đã cao thì sớm hôm phải chăm chỉ, không nên trễ nải, biếng nhác, khiến uổng phí cả công lao". Nói rồi, ban cho ông một cái tán (theo Đại Việt thông sử).
Mùa Thu năm 1427, nhà Minh sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân kéo sang giải vây cho Vương Thông. Lưu Nhân Chú được lệnh cùng Lê Sát mang 1 vạn quân, 5 thớt voi đực lên trước ải Chi Lăng đợi đánh. Ông cùng hợp mưu với Lê Sát, sai Trần Lựu giả thua để nhử Liễu Thăng ở Chi Lăng rồi tung quân mai phục ra đánh úp. Liễu Thăng, Lương Minh bị chém chết. Hai tướng Minh còn lại là Hoàng Phúc và Thôi Tụ cố mở đường tiến về Xương Giang. Lưu Nhân Chú và Lê Sát chặn đánh, giết được 2 vạn quân địch.
Sau đó, khi Phúc và Tụ kéo tới Xương Giang mới biết thành này đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân giữa đồng không. Lê Lợi sai Lê Lý cùng Lê Văn An, Lê Khôi mang quân tới tiếp ứng cho Lưu Nhân Chú tổng tiến công quân Minh ở Xương Giang, giết và bắt sống toàn bộ quân địch.
Tướng Hoàng Phúc cũng bị bắt. Mộc Thạnh cầm một cánh quân viện binh khác, nghe tin Liễu Thăng bại trận nên bỏ chạy về. Vương Thông bị vây ngặt ở Đông Quan không còn quân cứu ứng phải xin giảng hòa để rút về nước.
Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (10/12/1427), Lưu Nhân Chú phò Lê Lợi và 13 tướng lĩnh tham gia Hội thề Đông Quan với tướng Vương Thông nhà Minh. Vương Thông cam kết rút hết quân về nước, không dám ngoan cố chờ đợi viện binh và trên đường rút quân không được cướp bóc của nhân dân. Lưu Nhân Chú là “Người phò tá có tài, là bề tôi tận trung của nước”. Lê Lợi tức Lê Thái Tổ lên ngôi vua ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (tức ngày 29/4/1428), Lưu Nhân Chú được ban quốc tính (họ Lê) và được phong làm Suy trung Tán trị Hiệp mưu Dương vũ công thần, nhập nội kiểm hiệu, Bình chương quân quốc trọng sự, đứng đầu hàng võ trong triều đình, kiêm coi chính sự Nhà nước.
Dịp này, vua Lê Thái Tổ ban bài chế cho ông, có đoạn: "Trẫm nghĩ: Vua tôi một thể, chân tay giỏi thì đầu được tôn. Giúp đỡ có người, rường cột chắc thì nhà mới vững. Người là người phò tá có tài, là bề tôi tận trung của nước nên trẫm cho vinh hạnh ở ngôi Tể tướng và vẫn giữ trách nhiệm coi nắm binh quyền. Nay ban cho tờ chiếu chỉ, để nêu rõ bậc quan sang” (Đại Việt thông sử). Tháng 5-1429, Lê Thái Tổ sai khắc biển công thần, Lưu Nhân Chú được phong làm Á thượng hầu, đứng hàng thứ.
Nhắc đến những đóng góp của Lưu Nhân Chú, ông Lưu Thành, Chủ tịch Hội đồng Lưu tộc Việt Nam, cho rằng: Lưu tộc Việt Nam mà tiêu biểu là Lưu Trung, Lưu Nhân Chú cư dân xã Vạn Phú có đóng góp to lớn cho đất nước, kể cả của cải, sức lực và trí tuệ. Với triều Lê, cha con Lưu Trung là yếu nhân, công thần bậc nhất.



