Khác

Anh hùng Lý Thường Kiệt

Thần vị: Việt Quốc Công (Lý Thường Kiệt). Tên thật: Ngô Tuấn (tên tự là Thường Kiệt) Thời đại: Triều Lý (Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông) – Thế kỷ XI Quê quán: Phường Thái Hòa, thành Thăng Long (nay thuộc Hà Nội). Ngài Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, sinh tại kinh thành Thăng Long. Từ thuở thiếu thời, đã bộc lộ khí phách phi thường, học rộng biết nhiều, binh thư võ lược tinh thông.

Cần Thơ15/12/2025Huỳnh Như Mộng (Xã Vĩnh Viễn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Lý Thường Kiệt

Thần vị: Việt Quốc Công (Lý Thường Kiệt).

Tên thật: Ngô Tuấn (tên tự là Thường Kiệt)

Thời đại: Triều Lý (Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông) – Thế kỷ XI

Quê quán: Phường Thái Hòa, thành Thăng Long (nay thuộc Hà Nội). Ngài Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, sinh tại kinh thành Thăng Long. Từ thuở thiếu thời, đã bộc lộ khí phách phi thường, học rộng biết nhiều, binh thư võ lược tinh thông.

Dưới triều Lý Thái Tông, Ngài được trọng dụng, phò tá Lý Thánh Tông trị vì. Đảm nhiệm chức vụ Thái Úy (Tổng chỉ huy quân sự) và Phụ Chính (Nắm quyền điều hành triều chính), Ngài đã đưa triều Lý từ buổi sơ khai lên đến đỉnh cao cường thịnh, tạo dựng một thế nước Đại Việt độc lập, tự chủ.

Vào năm 1069, Ngài lãnh đạo đại quân tiến đánh phương Nam. Chiêm Thành cậy mạnh xâm phạm, Ngài thân chinh chỉ huy, quân thủy bộ thần tốc tiến vào tận kinh đô Chiêm.

Bắt sống vua Chiêm là Chế Củ, buộc phải cắt ba châu (Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý) nộp về Đại Việt. Công lao này không chỉ trừng phạt kẻ dám xâm phạm mà còn mở rộng biên cương phía Nam cho muôn đời con cháu.

Công tích: Dẹp Chiêm ổn định biên thùy, khai cương ích thổ, vạn dặm sơn hà.

Đầu thế kỷ XI, giặc Tống phương Bắc nuôi mộng bành trướng, ráo riết tập trung binh lương, chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Ngài Lý Thường Kiệt nhận định thấu đáo: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc."

Triết lý quân sự "Tiên Phát Chế Nhân" của Ngài đã đi vào lịch sử.

Năm 1075, Ngài thống lĩnh đại quân, chia thành hai mũi tiến đánh thẳng vào căn cứ địa của địch tại Khâm Châu, Liêm Châu, và Ung Châu.

Đại phá Ung Châu, tiêu diệt sạch nguồn dự trữ quân lương, khiến ý đồ xâm lược của quân Tống bị phá sản hoàn toàn.

Quân Tống mười phần, bị tiêu diệt bảy, tám phần. Phá sạch âm mưu tàn bạo của giặc Bắc, bảo toàn mạng sống cho trăm họ Đại Việt.

Sau đó, khi quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy tràn vào, Ngài rút về lập Phòng tuyến Sông Cầu (Như Nguyệt). Bằng trận địa thủy bộ kiên cố và chiến thuật cầm chân địch thiên tài, Ngài đã làm quân Tống kiệt quệ, tinh thần suy sụp.

Giữa lúc đó, Ngài truyền lệnh ngâm vang bài "Nam Quốc Sơn Hà" tại đền thờ:

Nam Quốc Sơn hà Nam Đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Chúng đẳng hành khan thủ bại hư!

Tầm vóc văn hóa: Bài thơ này là Thiên Cổ Hùng Văn, là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bằng thơ đầu tiên và hùng hồn nhất của dân tộc, khẳng định chủ quyền nước ta đã được sách trời ghi nhận.

Trận quyết chiến: Nhờ thơ thần khích lệ, quân dân ta nhất tề xông lên, đại phá tan quân Tống, buộc chúng phải cầu hòa và rút quân nhục nhã.

Sông Như Nguyệt ghi dấu chiến công hiển hách. Mười vạn binh Tống tan tành mộng xâm lăng. Bờ cõi Đại Việt ngàn năm bình yên.

Ngài là Quốc Thượng Phụ của dân tộc. Tài đức và công lao của Ngài vượt qua thời đại, là khí phách của muôn đời.

Văn tài thao lược, Võ đức hiển hách.

Thái úy dựng nước, Hoằng Chân giữ nước.

Tư tưởng Tiên Phát răn dạy hậu thế về thế chủ động giữ nước.

"Nam Quốc Sơn Hà" là lời thề bất diệt của dân tộc trước mọi kẻ thù.

Nguồn:

Căn Cứ Chính Sử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Điện U Linh Tập, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép rõ.

Công đức lưu danh, sử sách vạn đại lưu truyền.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn